vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Vàng Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Thời hạn tù được tính từ ngày 23/6/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng văn P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Vàng Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HS-ST
Ngày 29 tháng 11 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ P1 toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh;

Ông Lò Văn Chiên.

- Thư ký P1 toà: Ông Hoàng Văn Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia P1 tòa: Bà Lê Ngọc Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2022/TLHS-ST, ngày 18 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2022/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vàng Văn P, tên gọi khác: Không có, sinh năm 1990, tại: huyện T, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản H, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Vàng Văn N, sinh năm 1962; mẹ đẻ: Quàng Thị K, đã chết; vợ: Phan Thị T, sinh năm 1995; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Phong Thổ từ ngày 23/6/2022 đến nay, có mặt tại P1 tòa.

- Người làm chứng:

Anh Hò Văn P, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản C, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do;

Anh Lý Văn B, sinh năm 1987, địa chỉ: Bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

Anh Vàng Văn T, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

Anh Nùng Văn L, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản M, xã N, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại P1 tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút, ngày 23/6/2022, tổ công tác Công an xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu làm nhiệm vụ tại khu vực bản Màu, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ thì phát hiện Nùng Văn L đang đi bộ trên đường thuộc bản Màu có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Nùng Văn L đã đưa từ lòng bàn tay trái ra 01 gói chất bột màu trắng, được gói ngoài bằng nilon màu đỏ, đốt túm lại và khai nhận gói trên là Heroine, L mua được của Vàng Văn P, em rể của anh Phan Văn L1, sinh năm 1992, trú tại Bản Màu, xã Nậm Xe với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Căn cứ lời khai của Nùng Văn L, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và khám xét khẩn cấp đối với Vàng Văn P, sinh năm 1990, có hộ khẩu thường trú tại Bản Hợp Nhất, xã Bản Bo, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu, hiện đang sinh sống tại nhà anh vợ là Phan Văn L1. Quá trình khám xét, tổ công tác đã thu giữ 01 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng, được gói ngoài bằng nilon màu đỏ đốt túm lại một đầu và số tiền 1.265.000 đồng (Một triệu, hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Vàng Văn P khai nhận 01 gói chất bột màu trắng bị thu giữ là Heroine của P mua về cất giấu, mục đích để bán lẻ kiếm lời và sử dụng cho bản thân, số tiền 1.265.000 đồng là tiền của P bán Heroine có được.

Quá trình điều tra, Vàng Văn P khai nhận: Do không có việc làm nên từ khoảng cuối năm 2021, gia đình P đến ở tại nhà anh Phan Văn L1, là anh vợ của P để tìm việc làm. Khoảng 16 giờ, ngày 22/6/2022, Vàng Văn P mua được 01 gói Heroine giá 2.500.000 đồng của Nông Văn Trưởng, sinh năm 1992, địa chỉ: Bản Màu, xã Nậm Xe. Mua được Heroine, P đem về nhà cất giấu và chia nhỏ số Heroine ra, lấy mảnh nilon màu đỏ gói lại thành 40 gói nhỏ, sau đó gói toàn bộ số Heroine lại rồi đem chôn dưới bụi cây dong riềng trong vườn nhà anh Phan Văn L1, không nói cho ai biết. Sau đó, Vàng Văn P đã 04 lần bán trái phép Heroine như sau:

Khoảng 20 giờ, ngày 22/6/2022, P bán cho Vàng Văn T 02 gói Heroine trong số Heroine P cất giấu, lấy số tiền 200.000 đồng.

Khoảng 21 giờ, ngày 22/6/2022, P bán cho Hò Văn P1 01 gói Heroine trong số Heroine P cất giấu, lấy số tiền 100.000 đồng.

Khoảng 23 giờ, ngày 22/6/2022, P bán cho Lý Văn B 01 gói Heroine trong số Heroine P cất giấu, lấy số tiền 100.000 đồng.

Khoảng 13 giờ, ngày 23/6/2022, P bán cho Nùng Văn L 01 gói Heroine trong số Heroine P cất giấu, lấy số tiền 100.000 đồng.

Vàng Văn T, Lý Văn B, Hò Văn P1, Nùng Văn L khai nhận đã mua Heroine của P đúng như lời khai của P.

Ngoài ra, Vàng Văn P khai nhận, sau khi chia nhỏ số Heroine trên ra, trước khi bị phát hiện, P đã nhiều lần sử dụng Heroine, mỗi lần sử dụng hết 01 gói. P cũng đã bán Heroine cho một số người nghiện khác nhưng không biết rõ lai lịch cụ thể của những người đó. Tổng số tiền mà P bán Heroine có được là 1.300.000 đồng. Trong đó, P đã chi tiêu cá nhân hết 35.000 đồng.

Vật chứng đã thu giữ: Thu giữ của Nùng Văn L: 01 gói chất bột màu trắng. Thu giữ của Vàng Văn P: 01 gói chất bột màu trắng; Số tiền 1.265.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định, kết quả như sau: Tại Kết luận giám định số: 71/KL-GĐVV, ngày 23/6/2022, của ông Tẩn Chỉn Phồng, người giám định tư pháp theo vụ việc thuộc Ủy ban nhân dân huyện Phong Thổ, kết luận: Gói chất bột màu trắng thu giữ của Nùng Văn L có khối lượng: 0,04 gam; Gói chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Văn P có khối lượng: 0,06 gam. Tại Kết luận giám định số: 627/KL-KTHS, ngày 27/6/2022, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: 02 mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Nùng Văn L, Vàng Văn P gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Tại Kết luận giám định số: 739/KL-KTHS, ngày 31/8/2022, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: Số tiền 1.265.000 gửi đến giám định là tiền thật.

Tại bản Cáo trạng số: 100/CT-VKSPT, ngày 17/11/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu để xét xử bị cáo Vàng Văn P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại P1 tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại P1 tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vàng Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Văn P từ 08 (Tám) năm, 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số Heroine thu giữ được đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu giám định nên không đề cập xử lý. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng còn lại, gồm: Tịch thu tiêu hủy: 02 mảnh nilon màu đỏ; các phong bì niêm phong vật chứng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 1.265.000 đồng thu giữ của bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại P1 tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại P1 tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

Những người làm chứng vắng mặt tại P1 tòa đã có lời khai trong quá trình điều tra, được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về chứng cứ, hành vi mà bị cáo Vàng Văn P đã thực hiện:

Lời nhận tội của bị cáo tại P1 tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra, truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Trong ngày 22 và ngày 23/6/2022, tại nhà ở của anh Phan Văn L1, địa chỉ: Bản Màu, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Vàng Văn P đã 04 lần bán trái phép chất ma túy, được tổng số tiền là 500.000 đồng. Cụ thể như sau:

Khoảng 20 giờ, ngày 22/6/2022, P bán cho Vàng Văn T 02 gói Heroine, lấy số tiền 200.000 đồng;

Khoảng 21 giờ, ngày 22/6/2022, P bán cho Hò Văn P1 01 gói Heroine, lấy số tiền 100.000 đồng;

Khoảng 23 giờ, ngày 22/6/2022, P bán cho Lý Văn B 01 gói Heroine, lấy số tiền 100.000 đồng;

Khoảng 13 giờ, ngày 23/6/2022, P bán cho Nùng Văn L 01 gói Heroine, lấy số tiền 100.000 đồng.

Nùng Văn L đã giao nộp: 01 gói chất bột màu trắng và khai nhận đó là Heroine do L mua của Vàng Văn P để L sử dụng cho bản thân. Vàng Văn P đã giao nộp: 01 gói chất bột màu trắng; Số tiền 1.265.000 đồng. P khai nhận gói chất bột màu trắng là Heroine do P mua về để sử dụng cho bản thân và bán lẻ kiếm lời, số tiền 1.265.000 đồng, là tiền P bán Heroine mà có.

Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: Gói chất bột màu trắng thu giữ của Nùng Văn L có khối lượng: 0,04 gam; Gói chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Văn P có khối lượng: 0,06 gam; 02 mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Nùng Văn L, Vàng Văn P gửi giám định là ma túy, loại Heroine; Số tiền 1.265.000 gửi đến giám định là tiền thật.

Bị cáo là người có đủ năng L trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ Heroine là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn; hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Những tình tiết liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc số Heroine, Vàng Văn P khai nhận mua được của Nông Văn Trưởng, sinh năm 1991, trú tại: Bản Màu, xã Nậm Xe, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Quá trình điều tra xác minh xác định đối tượng Nông Văn Trưởng đã đi khỏi địa phương, gia đình và chính quyền không biết Trưởng đi đâu, làm gì nên chưa có đủ cơ sở để điều tra làm rõ trọng vụ án này. Kiến nghị Cơ quan điều tra Công an huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của đối tượng Nông Văn Trưởng khi xác định được nơi ở của Trưởng.

Đối với anh Phan Văn L1, là anh vợ của P; bà Vùi Thị Phân, là mẹ vợ của P và chị Phan Thị Tiển, là vợ P: Quá trình điều tra xác định, việc P chia, cất giấu, sử dụng và bán Heroine, anh Phan Văn L1, bà Vùi Thị Phân, chị Phan Thị Tiển, không biết, không nhìn thấy, không tham gia cùng nên anh Phan Văn L1, bà Vùi Thị Phân, chị Phan Thị Tiển không phạm tội.

Đối với Nùng Văn L đã tàng trữ trái phép 0,04 gam Heroine, mục đích để sử dụng: Quá trình điều tra, xác minh Nùng Văn L chưa có tiền án, tiền sự gì nên hành vi tàng trữ 0,04 gam Heroine của Nùng Văn L chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 18/10/2022, cơ quan Công an huyện Phong Thổ đã ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Nùng Văn L về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Đối với Vàng Văn T, Hò Văn P1 đã mua Heroine của Vàng Văn P để sử dụng và đã sử dụng hết. Ngày 18/10/2022, Công an huyện Phong Thổ đã ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với Vàng Văn T, Hò Văn P1 về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma tuý.

Đối với Lý Văn B đã mua 01 gói Heroine của Vàng Văn P, B chưa kịp sử dụng thì đã làm rơi gói Heroine. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên không có căn cứ để xử lý đối với Lý Văn B về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Vàng Văn T khai trước khi vào nhà P mua Heroine thì T có gặp 01 người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể. Người này đưa cho T số tiền 100.000 đồng để nhờ T mua giúp Heroine. T đã nhận tiền của người đó và vào mua 02 gói Heroine của P, trong đó có 01 gói là mua hộ cho người đàn ông này. Do T không biết nhân thân, lai lịch của người này, quá trình nhận tiền và đưa Heroine không có ai biết, không có ai chứng kiến. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để điều tra xác minh, làm rõ đối tượng này và không đủ căn cứ để xử lý đối với T.

Quá trình điều tra, Vàng Văn P khai nhận còn bán trái phép Heroine cho nhiều người nghiện khác nhưng do P không biết nhân thân, lai lịch của những người này. Việc mua bán ma túy cũng không có ai chứng kiến. Ngoài lời khai của P, không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vàng Văn P về các lần P khai bán ma túy nói trên.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại P1 tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Bị cáo đã đầu thú về 03 lần bán trái phép chất ma túy trong ngày 22/6/2022. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra cho xã hội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để cải tạo và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật cho bị cáo, đồng thời để góp phần răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do bị cáo thành khẩn khai báo, khai nhận về 03 lần bị cáo bán Heroine trong ngày 22/6/2022 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần quyết định mức hình phạt nhẹ hơn mức hình phạt của Kiểm sát viên đề nghị, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, điều kiện kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số Heroine thu giữ của bị cáo và của Nùng Văn L đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử xử lý vật chứng, gồm: 02 mảnh nilon màu đỏ; các vỏ niêm phong vật chứng, đây là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 1.265.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 500.000 đồng là tiền bị cáo có được từ việc bán nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 765.000 đồng, do không chứng minh được là tiền bị cáo bán Heroine mà có nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Bị cáo Vàng Văn P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Văn P: 08 (Tám) năm tù.

Thời hạn tù được tính từ ngày 23/6/2022.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng đã thu giữ của bị cáo Vàng Văn P.

Trả lại cho bị cáo Vàng Văn P số tiền 765.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng, gồm: 02 mảnh nilon màu đỏ; các vỏ niêm phong vật chứng.

(Các vật chứng hiện đang được lưu tại Kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ