vanban.org

Bản án 23/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 12/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng : Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH THUẬN
Bản án số: 23/2022/HS-ST
Ngày: 12/5/2022

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Thế Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Quang Sơn và Ông Phạm Hữu Ái

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vĩnh Nguyên – Thư ký của Toà án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thu Quý– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T; Sinh năm 1993, tại Bình Thuận.

Nơi ĐKHKTT: khu phố 1, thị trấn Tân Ngh, huyện Hàm T, Bình Th.

Chỗ ở hiện nay: không xác định

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 10/12.

Con ông Nguyễn Thanh G, sinh 1964 và bà Nguyễn Thị M, sinh 1963.

Vợ con : Chưa có

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 05/01/2011 bị Công an thị trấn Tân Nghĩa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt hành chính số 65/QĐ-XPHC (chấp hành xong ngày 05/04/2012).

+ Tại Bản án số 60/2015/HS-ST ngày 19/8/2015 bị TAND huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. (Đã chấp hành xong bản án ngày 29/8/2017).

Bị cáo Nguyễn Thanh T đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Tân từ ngày 13/01/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

* Bị hại: Anh Trần Văn D, sinh năm 1992. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn An V, xã Sông Ph, huyện Hàm T, tỉnh Bình Th.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22h00 ngày 12/01/2022, Nguyễn Thanh T đi bộ đến nhà Lương Hữu Ch tại thôn An B, Sông Ph, Hàm T để tìm Trần Văn D. Tại đây, D cùng Ch và một số người bạn tổ chức ăn nhậu ở phía ngoài hiên nhà thấy T từ xa đi đến, do sợ T gây rối nên cả nhóm dọn vào trong nhà rồi đóng cửa tắt đèn. Khi T đến không thấy ai và nhà đóng kín cửa. Lúc này, T thấy bên hiên nhà có xe mô tô 86B5 – 246.91 của Trần Văn D chìa khóa còn cắm trên xe, T nảy sinh ý định lấy trộm làm phương tiện đi lại. Thực hiện ý định, T lên xe nổ máy chạy đi. Nghe tiếng nổ máy xe, D, Ch mở cửa ra chạy đuổi theo T nhưng không kịp. Sau đó, T điều khiển xe đến Nghĩa trang thị trấn Tân Ngh xé nhãn xe, bẻ biển số. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày Công an xã Sông Phan phối hợp Công an xã Tân Phúc truy tìm phát hiện T cùng xe mô tô 86B5 – 246.91 nên đưa về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, Nguyễn Thanh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hàm Tân kết luận giá trị của xe mô tô hiệu Suzuki, màu sơn đen, số loại Satria (đã qua sử dụng) là 29.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ : 01 xe mô tô 86B5 – 246.91 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 86B5 – 246.91. Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân đã trả cho Trần Văn D.

Tại bản cáo trạng số 18/CT-VKS ngày 31/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh T như nội dung cáo trạng nêu và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng : Khoản 1 Điều 173; s khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự : Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường cho anh Trần Văn D số tiền chi phí sửa chữa các bộ phận hư hỏng xe mô tô 86B5-246.91 với số tiền 1.470.000 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng).

- Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND huyện Hàm Tân truy tố là hoàn toàn đúng với các hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

- Bị cáo Nguyễn Thanh T không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND huyện Hàm Tân.

* Bị cáo Nguyễn Thanh T nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố vụ án, Cơ quan điều tra Công an huyện Hàm Tân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại anh Trần Văn D vắng mặt. Ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo có mặt tại phiên tòa là đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử, vì lời khai của họ đã khai đầy đủ thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về nội dung vụ án :

Về định tội và hình phạt : Tại Toà, bị cáo Nguyễn Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân đã truy tố. Xét, lời khai của bị cáo tại Tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ căn cứ khẳng định:

Vào khoảng 22 giờ 12/01/2022, tại nhà anh Lương Hữu Ch tại thôn An B, Sông Ph, Hàm T. Bị cáo Nguyễn Thanh T đã có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô 86B5 – 246.91 trị giá 29.000.000 đồng của Trần Văn D đang dựng trong hiên nhà của anh Ch.

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh T đủ yếu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Mặc dù bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm, nhưng với bản tính tham lam, chây lười lao động, nên bị cáo đã lợi dụng sự mất cảnh giác trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, nhằm mục đích tư lợi cá nhân.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự xem thường pháp luật, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, tạo tâm lý mất an toàn trong quần chúng nhân dân. Do đó, để giữ gìn kỷ cương pháp luật, bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, cần xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian, để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo Tuấn thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn D yêu cầu Nguyễn Thanh T bồi thường chi phí sửa chữa các bộ phận hư hỏng xe mô tô 86B5 – 246.91 với số tiền 1.470.000 đồng. Đây là yêu cầu phù hợp với quy định pháp luật, vì vậy cần buộc bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường số tiền 1.470.000 đồng cho anh Trần Văn D.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng : Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2022.

[2] Về trách nhiệm dân sự : Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T bồi thường số tiền 1.470.000 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi ngàn đồng) cho anh Trần Văn D.

Kể từ ngày anh Trần Văn D có đơn yêu cầu thi hành án mà bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền bị cáo có nghĩa vụ bồi thường, thì phải chịu trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ Luật dân sự.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo : Áp dung Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ