- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự số 23 - Thạch Văn G - PT "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự; các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2022/HS-ST Ngày 05 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hường.
2. Ông Hà Quang Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Trung Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2022/TLST-HS ngày 25/03/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 22/4/2022 đối với bị cáo:
THẠCH VĂN G, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26 tháng 3 năm 2004 tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Nơi ĐKHKTT, chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã Th, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Cao Lan; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; đảng, đoàn thể: Không; con ông Thạch Đức H, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1975; anh, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo THẠCH VĂN G : Bà Nguyễn Thị Nguyệt - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang.
* Bị hại: Anh Nông Càn T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn B 2, xã TH, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn A, xã Th, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 01/01/2022, Thạch Văn G, sinh ngày 26/3/2004, trú tại thôn Ao Vệ, xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang sử dụng tài khoản Facebook có tên “Nguyễn Nam” để đọc các bài viết của mọi người trên Facebook thì thấy tài khoản Facebook có tên “Long Vũ” do anh Nông Càn T, sinh năm 1993, trú tại thôn Bản Ba 2, xã Trung Hà, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang sử dụng, đăng bán 01 xe mô tô biển số đăng ký 15F1-085.27, nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn xanh, G nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh T để bán lấy tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân. G đã chủ động nhắn tin qua ứng dụng Messenger liên kết với Facebook nhắn tin cho T để hỏi về đặc điểm xe mô tô, giấy tờ xe, địa chỉ và số điện thoại liên hệ của T.
Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 02/01/2022, G sử dụng điện thoại có gắn sim số 0382.477.023 gọi vào số 0338.727.401 của T để hẹn thời gian và địa điểm giao dịch xe mô tô ở đoạn đường thuộc thôn TT, xã PT, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Khoảng 11 giờ cùng ngày, G đi xe buýt đến địa điểm như đã hẹn và đứng đợi ở lề đường bên phải theo hướng huyện Hàm Yên đi huyện Chiêm Hóa, thấy T điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 15F1-085.27 đi tới và hỏi “Em xem xe à?”, G trả lời “Vâng”, T dừng lại và bắt đầu cho G xem xe, G hỏi T về giấy tờ xe thì được T mở cốp xe lấy 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006352 cho G xem, sau khi kiểm tra thấy thông tin trên đăng ký xe trùng với biển số đăng ký của xe mô tô, G để vào cốp xe và nói dối T “Em đi thử xem nhé”, T đồng ý và nói "ừ, em đi đi" rồi đưa chìa khóa xe cho G, G khởi động xe và một mình điều khiển xe đi theo hướng huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mục đích chiếm đoạt chiếc xe mô tô của T, khi đi đến Đèo Gà (đường Quốc lộ 3B) thuộc xã Tân Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang thì G tắt nguồn điện thoại di động của mình để T không gọi và liên lạc được. Sau khi T đứng chờ một lúc, nhưng không thấy G quay lại nên đã gọi điện vào số điện thoại của G thì không liên lạc được. Lúc này, T xác định đã bị lừa nên gọi điện nhờ bạn là Hà Văn Thương, trú tại thôn Khuôn Hang, xã Hòa Phú, huyện Chiêm Hóa hộ truy đuổi thì phát hiện G, Thương đuổi đến thôn BN, xã YN, huyện Chiêm Hóa thì đuổi kịp, G bỏ lại xe vừa chiếm đoạt của T cạnh đường và chạy vào vườn ngô ven đường để trốn, sau đó G bị người dân và Công an xã YNbắt giữ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 05/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chiêm Hóa, kết luận: Giá trị của 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển số đăng ký 15F1-085.27, xe đăng ký lần đầu ngày 21/6/2006, xe cũ đã qua sử dụng, tại thời điểm tháng 01/2022 có trị giá là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng chẵn).
Cáo trạng số: 19/CT-VKSCH ngày 24/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Thạch Văn G về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Thạch Văn G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thạch Văn G từ 06 tháng đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, quản lý, giáo dục.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về vật chứng vụ án: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo cùng đại diện gia đình và bị hại đã tự nguyện thỏa thuân bồi thường xong nên không đề cập xem xét.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thạch Văn G đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo được hưởng án treo.
Người bào chữa cho bị cáo Thạch Văn G phát biểu quan điểm: Nhất trí với nội dung bản cáo trạng và nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cùng gia đình đã tự nguyện hỗ trợ chi phí đi lại làm việc và truy đuổi khi xe bị chiếm đoạt cho anh T số tiền 3.000.000 đồng; Anh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Thạch Văn G mức án thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp cũng đủ để giáo dục, cải tại bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo và gia đình đã thỏa thuận bồi thường xong cho bị hại nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa bị hại Nông Càn T xác nhận đã được trả lại xe mô tô, tại giai đoạn điều tra gia đình bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận hỗ trợ tiền công đi lại làm việc với cơ quan điều tra và công truy đuổi, tại phiên tòa anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S xác nhận số tiền 3.000.000 đồng bà và bị cáo G hỗ trợ tiền công đi lại làm việc cho anh T là tiền của bà, nay bà không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quang không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 02/01/2022, tại thôn Trung Tâm, xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Thạch Văn G sinh ngày 26/3/2004, trú tại thôn Ao Vệ, xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi Lừa đảo chiểm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển số đăng ký 15F1-085.27, trị giá 7.000.000đ (Bảy triệu đồng chẵn) của anh Nông Càn T, sinh năm 1993, trú tại thôn Bản Ba 2, xã Trung Hà, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Như vậy, hành vi của bị cáo Thạch Văn G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện hỗ trợ chi phí đi lại làm việc, truy đuổi khi xe mô tô khi bị chiếm đoạt; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa và quá trình điều tra anh T xác nhận số tiền 3.000.000 đồng bị cáo và gia đình hỗ trợ là tiền công đi lại làm việc và tiền công truy đuổi khi G chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh việc thuê người truy đuổi và bị cáo thừa nhận số tiền 3.000.000 đồng là tiền gia đình bị cáo hỗ trợ tiền chi phí đi lại làm việc, do vậy không áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu của quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên và có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt bị cáo G hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Ngày 25/02/2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chiêm Hóa đã trả lại xe mô tô biển số đăng ký 15F1-085.27 cho anh Nông Càn T, nên không xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Anh T đã nhận được 3.000.000 đồng tiền hỗ trợ công đi lại làm việc, tại phiên tòa anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm, do vậy không xem xét, giải quyết.
Bà Nguyễn Thị S không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 3.000.000 đồng đã hỗ trợ cho anh T, nên không xem xét, giải quyết
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật hình sự; các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thạch Văn G phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thạch Văn G 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Thạch Văn G cho Ủy ban nhân dân xã Thái Hòa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang giám sát, quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, quản lý, giáo dục người được hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại các Điều 68, 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Bị cáo Thạch Văn G phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện CH; - Sở Tư pháp; - Cơ quan ĐT CA huyện CH; - Cơ quan THAHS CA huyện CH; - Chi cục THADS huyện CH; - Bộ phận HSNV CA huyện CH; - Các bị cáo; người tham gia tố tụng khác - Lưu HS, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Thị Huệ |