vanban.org

Bản án 23/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H được ly hôn ông Trương Trọng K. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số thu số 0001255 ngày 19 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim H - Trương Trọng K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ P
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 17-5-2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quách Đình Hoằng

2. Bà Doãn Thị Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hải -Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 36/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022; giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1967. Địa chỉ: 233 N V X, Tổ 02, phường H P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Có mặt).

2 - Bị đơn: Ông Trương Trọng K, sinh năm 1962. Địa chỉ: 233 N V X, Tổ 02, phường H P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17-12-2021, đơn khởi kiện bổ sung ngày 19-01-2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Trương Trọng K tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phương D H – P – Gia Lai năm 1985. Quá trình chung sống đến nay giữa bà và ông K bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau dẫn dến mâu thuẫn vợ chồng, do làm ăn thất bại nợ nần dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế. Hiện vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm và trách nhiệm gì tới nhau. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trương Trọng K.

Về con chung: Bà và ông K có ba con chung đều đã thành niên, tự lập riêng nên không yêu cầu Tòa giải quyết việc nuôi và cấp dưỡng nuôi con chung

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết các quan hệ này.

Đối với bị đơn là ông Trương Trọng K: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Toà án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Trương Trọng K đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay, ông Trương Trọng K tiếp tục vắng mặt, không có bản tự khai, không trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đúng các quy định về tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

Về nội dung vụ án và hướng giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trình bày của đương sự tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Thị Kim H có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố P giải quyết việc hôn nhân của bà và ông Trương Trọng K. Đơn khởi kiện của bà H được làm theo quy định tại Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Tòa án thụ lý, xem xét; ông Trương Trọng K cư trú tại thành phố P, nên Tòa án nhân dân thành phố P có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc bị đơn vắng mặt:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập ông Trương Trọng K đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông K đều không đến Tòa án làm việc và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông K vẫn vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H và ông Trương Trọng K tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D H, thành phố P, tỉnh Gia Lai vào ngày 26/7/1985 nên hôn nhân giữa bà H và ông K là hôn nhân hợp pháp. Theo bà H, quá trình chung sống đến nay giữa bà và ông K bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau dẫn dến mâu thuẫn vợ chồng, do làm ăn bị thất bại nợ nần dẫn đến vợ chồng mâu thuân về kinh tế. Hiện vợ chồng đã sống ly thân và không còn quan tâm và trách nhiệm gì tới nhau.

Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng nhưng bà H vẫn kiên quyết giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình và đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trương Trọng K. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản để bà H và ông K đến Tòa án tham gia hòa giải đoàn tụ nhưng ông K đều vắng mặt chứng tỏ ông K không quan tâm đến việc có cần tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân của vợ chồng hay không. Như vậy, đã có đủ cơ sở để nhận định rằng, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông K đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, quan hệ vợ chồng đã thực sự không thể hàn gắn được nữa, mục đích của hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, quyết định cho bà được ly hôn với ông K.

Về con chung: Các con chung đã đủ tuổi thành niên bà H không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không quyết định.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Hương không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Hội đồng xét xử không quyết định.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H là nguyên đơn, phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 94, 144, 146, 147, 207, 227, 228, 235, 264, 266, 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 53, 54, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim H được ly hôn ông Trương Trọng K.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số thu số 0001255 ngày 19 tháng 01 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai; Bà Nguyễn Thị Kim H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn ông Trương Trọng K vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ