vanban.org

Bản án 23/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Hoàng Minh T.

Về quan hệ con chung: Chị P thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Hoàng Thị Phương L, sinh ngày 26/01/2000 và cháu Hoàng Nhật L, sinh ngày 24/6/2002. Hiện hai cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị P và anh Hoàng Minh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Hoàng Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23 /2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18 / 8 /2022
V/v: "Kiện xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngân Hà

2. Ông Trần Xuân Văn

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Hoàng Mai - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2022/TLST - HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022 về kiện xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2022/ QĐST-HNGĐ ngày 26/7/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1976;

Nơi đăng ký HKTT: Số 38 đường Nguyễn Hữu D, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Chị Nguyễn Thị P có mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Minh T, sinh năm 1972;

Nơi đăng ký HKTT: Số 38 đường Nguyễn Hữu D, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; Anh Hoàng Minh T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 16/02/2022, được bổ sung tại bản tự khai, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Minh T đăng ký kết hôn hợp pháp tại Uỷ ban nhân dân thị trấn B, huyện Q, tỉnh Quảng Bình vào ngày 22/7/1999, kết hôn trên tinh thần tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị về sống chung tại số 38 đường Nguyễn Hữu D, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Ban đầu anh chị chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên những năm gần đây, vợ chồng luôn xảy ra bất đồng về quan điểm, lối sống, mâu thuẫn nặng nề vì không ai yêu thương ai, vợ chồng suốt ngày cãi vã. Anh T không chịu tu chí làm ăn, thường xuyên gây gổ. Mâu thuẫn kéo dài dẫn đến vợ chồng đã ly thân hơn hai năm nay. Ngoài ra anh T thường xuyên có những hành động gây cản trở doạ nạt ảnh hưởng đến công việc làm ăn của chị, khiến cho công việc đình trệ sa sút. Cuộc sống chung không có hạnh phúc, bản thân chị P luôn cảm thấy lo sợ, bất an vì anh T luôn gây gổ không có lý do. Đến nay chị P không còn tình cảm với chồng nữa vì anh T không yêu thương, quan tâm mẹ con chị. Vì vậy, nguyện vọng của chị là xin được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống, công việc.

Về con chung: Chị P thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Phương L, sinh ngày 26/01/2000 và cháu Hoàng Nhật L, sinh ngày 24/6/2002. Hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị P không yêu cầu chia tài sản chung, nợ chung để vợ chồng chị tự thỏa thuận.

*Về bị đơn anh Hoàng Minh T: Tại bản tự khai ngày 30 tháng 5 năm 2022 anh T trình bày: “Tôi đã nhận được giấy mời của Toà án Đồng Hới về việc cô P xin ly hôn tôi. Tôi đề nghị vợ (Nguyễn Thị P) đưa chiếc xe ô tô biển số 73A 211 15 màu trắng nếu lỡ bán thì đưa tiền về đủ cho gia đình, thì muốn làm gì thì làm miễn trình bày diễn giải. Đây là việc của gia đình tôi khi chúng tôi không thoả thuận được về tài sản thì tôi sẽ viết đơn yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản sau”.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã tiến hành triệu tập các bên đương sự đến làm bản tự khai, gửi giấy triệu tập cho các bên đương sự, tiến hành hai phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Anh T chỉ đến Tòa án làm bản tự khai nhưng không đến làm việc theo các giấy triệu tập phiên hòa giải của Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Toà án đã gửi các văn bản tố tụng bằng thư bảo đảm và đã có ký nhận của anh T xác nhận đã nhận văn bản tố tụng. Bị đơn anh T không đến tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập nên vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên kiên quyết xin được ly hôn. Về con chung chị P trình bày hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung. Về tài sản vợ chồng chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh T không có mặt tại phiên toà nên không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, HTND đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Căn cứ vào quá trình giải quyết vụ án, tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình: chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Hoàng Minh T. Về con chung chị Phương trình bày hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung. Về tài sản chung: chị P đề nghị để vợ chồng chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị P có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; là nơi bị đơn anh Hoàng Minh T có đăng ký nhân khẩu thường trú: phường N, thành phố Đ. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới đã ra thông báo thụ lý vụ án và gửi cho các bên đương sự kèm theo giấy triệu tập đến Tòa án, thông báo về phiên hòa giải, tiếp cận chứng cứ. Anh T chỉ đến Tòa án làm bản tự khai nhưng không đến làm việc theo các giấy triệu tập phiên hòa giải của Tòa án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Toà án đã gửi các văn bản tố tụng bằng thư bảo đảm và đã có ký nhận của anh Tâm xác nhận đã nhận văn bản tố tụng. Bị đơn anh T không đến tham gia phiên hòa giải theo giấy triệu tập nên vụ án thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được.

Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng cư trú của bị đơn và đã nhận được Văn bản số 1773/CAĐH- QLHC ngày 31/5/2022 của Công an thành phố Đồng Hới xác nhận: Công dân Hoàng Minh T, sinh ngày 20/6/1972 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố 4, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình và chưa cắt chuyển hộ khẩu đi đâu; Số hộ khẩu: 18865-005488; chủ hộ là Hoàng Minh T; hiện nay Hoàng Minh T đang sinh sống tại nơi đăng ký thường trú. Do đó, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo luật định. Ngày 26/7/2022 Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07/7/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới nhưng bị đơn anh T vắng mặt không có lý do tại phiên tòa lần thứ nhất. Do đó, HĐXX ra Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2022/ QĐST-HNGĐ ngày 26/7/2022 và ấn định thời gian xét xử vào ngày 18/8/2022 theo đúng quy định tại Điều 227, 233 Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng bị đơn anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Bị đơn anh T đều vắng mặt trong quá trình hòa giải và xét xử vụ án, tức là bị đơn cố tình từ bỏ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 68, 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Minh T.

Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cấp có thẩm quyền. Vì vậy, hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp; anh chị đã có thời gian khá dài chung sống; lẽ ra anh chị phải biết thương yêu, nhường nhịn, tôn trọng, tin tưởng nhau cùng nhau chia sẻ khó khăn xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng ngược lại anh chị không làm được điều đó để giữ gìn hôn nhân bền vững, cuộc sống chung vợ chồng trong nhiều năm gần đây luôn xảy ra mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân vợ chồng bất đồng trong cách sống, cách xử sự với nhau, thiếu tin tưởng nhau, từ đó vợ chồng có những lời nói và hành động tổn thương đến tình cảm vợ chồng. Không ai quan tâm đến ai, thiếu bàn bạc thống nhất vợ chồng, tình cảm vợ chồng mất mát dần. Mâu thuẫn của vợ chồng đã kéo dài từ nhiều năm nay nhưng hai bên không thể khắc phục và ngày càng căng thẳng do không tìm được tiếng nói chung; đã hơn hai năm nay vợ chồng sống ly thân không còn thực hiện quyền và nghĩa vụ vợ chồng trong thực tế đời sồng. Đến nay chị P không còn tình cảm với chồng nữa vì anh T không yêu thương mẹ con chị.

Chị Phương xác định tình cảm vợ chồng không còn nên kiên quyết xin được ly hôn, anh T biết rõ vụ kiện nhưng cũng không có ý gì muốn níu kéo hôn nhân mà thờ ơ để mặc, anh cũng không mong muốn được Tòa án hòa giải, thể hiện ở việc anh không đến tham gia các phiên họp, làm việc, hòa giải mà Tòa án triệu tập. Điều đó thể hiện rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục, tình cảm vợ chồng đã thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không thể sống chung hạnh phúc nên cần thiết phải cho chị P được ly hôn anh T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình.

Về quan hệ con chung:

Chị Phương thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Thị Phương L, sinh ngày 26/01/2000 và cháu Hoàng Nhật L, sinh ngày 24/6/2002. Hiện hai con đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.

Về chia tài sản và nợ chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và nợ chung, để vợ chồng chị tự thỏa thuận. Vì vây, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 5 khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị P phải chịu án phí 300.000 đồng để sung quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp 300.000 đồng tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 31AA/2021/0001122 ngày 04/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 51, 53, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình; Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Hoàng Minh T.

2. Về quan hệ con chung: Chị P thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng anh chị có hai con chung là cháu Hoàng Thị Phương L, sinh ngày 26/01/2000 và cháu Hoàng Nhật L, sinh ngày 24/6/2002. Hiện hai cháu đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn để sung quỹ Nhà nước. Số tiền chị Nguyễn Thị P phải nộp được khấu trừ từ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Nguyễn Thị P đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên lai số 31AA/2021/0001122 ngày 04/3/2022.

Án xử công khai, báo cho nguyên đơn có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/8/2022); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.

Cỡ chữ