- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Võ Thị Huỳnh N yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Văn L ."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Huỳnh Văn L .
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 23/2022/HNGĐ-ST Ngày 14-4-2022 Về việc“Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T , TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Thu Trang
2. Bà Phan Thị Trúc Phƣơng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Nhân - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 174/2021/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2021 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 17/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Huỳnh N - sinh năm 2001 (có mặt)
Địa chỉ: ấp P , xã P , thành phố R , tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn L - sinh năm 1994 (vắng mặt lần 2 không lý do)
Địa chỉ: ấp P , xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Huỳnh N trình bày:
Chị Võ Thị Huỳnh N và anh Huỳnh Văn L tự tìm hiểu quen biết khoảng 1 năm sau đó tổ chức đám cưới vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang ngày 31/01/2020.
Lý do xin ly hôn: Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, đến khoảng 3/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cự cãi, anh L đi làm nhưng không về nhà, chị N gọi điện thoại nhưng cũng không về nhà ở trong khi con còn nhỏ, anh L không quan tâm chăm sóc đến gia đình, không có trách nhiệm với vợ con, đi làm có tiền nhưng không đưa tiền để chị N chăm lo cho gia đình, anh L có mối quan hệ với người phụ nữ khác, chị N không bắt gặp được nhưng thấy anh L có nhắn tin với người kia, chị N có hỏi thì anh L chối không nhận, có lần chị N thấy anh L nhắn tin và hỏi nhưng anh L không đưa và còn đập điện thoại, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng gay gắt, khi cãi nhau anh L có ý muốn đuổi chị N nên nói “em xếp đồ về nhà chị Ba của em ở đi”, nên tháng 10/2021 chị N về nhà cha mẹ ruột sống đến nay nhưng anh L cũng không đến hỏi han gì. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 12/2020 đến nay.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: Huỳnh Thị Thảo U , sinh ngày 30/11/2019. Hiện cháu U đang sống với anh L .
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay tại Tòa án chị N yêu cầu:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N yêu cầu được ly hôn với anh L .
- Về con chung: Chị N đồng ý giao con cho anh L nuôi dưỡng, chị N không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án có triệu tập anh Huỳnh Văn L để hòa giải hôn nhân và gia đình, nhưng anh Huỳnh Văn L vắng mặt, nên Tòa án đưa vụ kiện ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng hợp lệ.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Huỳnh N .
- Về quan hệ con chung: Đề nghị giao cháu Huỳnh Thị Thảo U , sinh ngày 30/11/2019 cho anh Huỳnh Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, là phù hợp với quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên miễn xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã giao quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy báo phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh L vắng mặt. Tại phiên tòa nguyên đơn đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt anh Huỳnh Văn L .
Xét thấy, anh L chưa có ý kiến xác nhận theo đơn khởi kiện xin ly hôn của chị N tại Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án đã tống đạt đầy đủ và hợp lệ các thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự như: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh L vẫn không đến Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh L chung sống với nhau được UBND xã T , huyện T , tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 15, ngày 31/01/2020, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị N là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, vợ chồng anh chị chung sống với nhau đến tháng 3/2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị N cho rằng do anh L đi làm nhưng không về nhà, chị N gọi điện thoại nhưng cũng không về nhà ở trong khi con còn nhỏ, anh L không quan tâm chăm sóc đến gia đình, không có trách nhiệm với vợ con, đi làm có tiền nhưng không đưa tiền để chị N chăm lo cho gia đình, anh L có mối quan hệ với người phụ nữ khác, chị N không bắt gặp được nhưng thấy anh L có nhắn tin với người kia, chị N có hỏi thì anh L chối không nhận, có lần chị N thấy anh L nhắn tin và hỏi nhưng anh L không đưa và còn đập điện thoại, khi cãi nhau anh L có ý muốn đuổi chị N nên nói “em xếp đồ về nhà chị Ba của em ở đi”, nên tháng 10/2021 chị N về nhà cha mẹ ruột sống đến nay nhưng anh L cũng không đến hỏi han gì, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt hơn. Tại phiên tòa, chị N thể hiện rõ quan điểm muốn ly hôn, không muốn đoàn tụ. Mặt khác, chị N và anh L hai bên đã ly thân với nhau từ tháng 12/2020 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, trong phần nghị án Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N được ly hôn với anh L .
Về quan hệ con chung: Chị N và anh L chung sống có 01 người con tên Huỳnh Thị Thảo U , sinh ngày 30/11/2019, hiện đang sống với anh L .
Xét thấy, cháu Thảo U hiện đang sống với anh L , được anh L nuôi dưỡng vẫn đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của cháu. Hội đồng xét xử thống nhất giao cho anh L tiếp tục nuôi con là phù hợp. Trường hợp anh L có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, có thể kiện thành một vụ kiện khác và sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, nữ trang chung, nợ chung: Chị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử miễn xét. Trường hợp anh L cho rằng có tài sản chung và có tranh chấp, sẽ khởi kiện thành một vụ kiện khác và sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị N phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Huỳnh Văn L .
2. Về quan hệ con chung: Giao cho anh Huỳnh Văn L tiếp tục nuôi người con tên Huỳnh Thị Thảo U , sinh ngày 30/11/2019. Chị Võ Thị Huỳnh N không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Huỳnh Văn L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Võ Thị Huỳnh N tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
3. Về quan hệ tài sản, nữ trang, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Võ Thị Huỳnh N phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006116 ngày 01/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Huỳnh Văn L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện T ; - Chi cục THADS huyện T ; - TAND tỉnh Kiên Giang; - Các đương sự; - UBND xã T ; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Chiến |