vanban.org

Bản án 23/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Lê Công Th. Về con chung: Chị D và anh Th có một con chung cháu Lê Đăng Khoa - sinh ngày: 23/10/2013. Chấp nhận nguyện vọng của cháu Khoa và chị D. Giao cháu Khoa cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh Th không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ D & LÊ CÔNG TH"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 07 – 6 - 2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Cúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông : Nguyễn Văn Dương

2. Ông: Nguyễn Văn Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung – Kiểm sát viên .

Ngày 07 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2022 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXX-ST ngày 28 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D - Sinh năm: 1984 – Có mặt

Bị đơn: Anh Lê Công Th - Sinh năm 1980 – Vắng mặt

Đều có địa chỉ: Thôn Sơn Th, xã Thanh S, thị xã Nghi S, Thanh H;

NỘI D VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa chị Nguyễn Thị D trình bày như sau: Chị và anh Lê Công Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thanh S, huyện Tĩnh G nay là xã Thanh S, thị xã Nghi S vào ngày 11/3/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà anh Th được khoảng 10 ngày thì thấy anh Th thường xuyên say xỉn nên chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở, sau đó anh Th lên nhà mẹ chị xin lỗi, vợ chồng đoàn tụ và ở trên nhà mẹ đẻ chị cho đến nay. Trong khoảng thời gian chung sống cùng nhau, anh Th thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, mỗi khi say rượu về nhà chửi bới hành hung mẹ con chị, đã nhiều lần chị báo công an đến giải quyết nhưng anh Th vẫn không thay đổi. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Th có 01 con chung là cháu: Lê Đăng Kh - sinh ngày: 23/10/2013. Nay ly hôn nguyện vọng của chị xin được nuôi con và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về quan điểm của anh Lê Công Th: Quá trình giải quyết vụ án đã nhiều lần Tòa án triệu tập anh Th lên làm việc nhưng anh Th cố tình trốn tránh không lên làm việc vì vậy Tòa án không thể lấy lời khai hay nguyện vọng của anh Lê Công Th được. Tòa án đã nhờ Công an xã Thanh Sơn làm việc với anh Th, tại biên bản làm việc với Công an xã Thanh Sơn, anh Th thừa nhận nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn như chị D trình bày là đúng, anh không muốn ly hôn.

Về con chung: Anh không có quan điểm gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án về phía bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của BLTTDS. Về nội D: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D; Xử cho chị D được ly hôn với anh Lê Công Th. Về con chung: Giao cháu Lê Đăng Kh cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị D; Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét; Về án phí buộc chị D phải chịu án phí DSST về việc hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Lê Công Th là tranh chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS. Bị đơn anh Th hiện đang cư trú trên địa bàn thị xã Nghi Sơn nên TAND Thị xã Nghi Sơn có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án nhưng anh Th cố tình trốn tránh, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng của bản thân. Tại phiên tòa lần thứ nhất anh Th vắng mặt không có lý do, Tòa án đã tiến hành tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ, đúng theo quy định vì vậy HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 BLTTDS xử vắng mặt anh Th.

Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thanh S, huyện Tĩnh Gi vào ngày 11/3/2013, nên được công nhận là hôn nhân đúng pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Do anh Th cố tình trốn tránh nên Tòa án không thể làm việc được. Tại biên bản làm việc với công an xã Thanh Sơn anh Th hứa sẽ thay đổi bản thân và không đồng ý ly hôn.

Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện tình trạng hôn nhân của chị D và anh Th sống không hạnh phúc, nguyên nhân do anh Th hay rược chè, không chịu làm ăn, thường xuyên chửi bới, đánh đập chị D, chị D đã nhiều lần báo cáo lên thôn, xã để hòa giải nhưng anh Th vẫn không thay đổi.

Xét về phần trình bày của chị D, anh Th và qua xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương HĐXX nhận thấy như sau; Giữa chị D và anh Th là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét về nguyên nhân mâu thuẫn thấy lời trình bày của chị D là hoàn toàn chính xác điều này chứng tỏ cuộc sống hôn nhân của chị D và anh Th không hạnh phúc, có xảy ra hiện tượng bạo lực gia đình, gia đình anh chị cũng đã được gia đình hai bên nội ngoại, chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi vì vậy HĐXX xét thấy nếu có kéo dài cũng không có hạnh phúc vì vậy cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị D là có căn cứ, phù hợp với các Điều 51 và 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị D và anh Th có 01 con chung cháu Lê Đăng Kh - sinh ngày: 23/10/2013. Cháu Khoa có nguyện vọng ở với mẹ.

Xác minh tại địa phương khẳng định chị D và anh Th có một con chung như chị D trình bày là đúng. Xét nguyện vọng của chị D muốn nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của cháu hơn nữa anh Th thường xuyên rượu chè, chửi bới điều này ít nhiều gây ảnh hưởng xấu đến đời sống tinh thần của cháu vì vậy HĐXX xét thấy cần thiết phải giao cháu cho chị D nuôi là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật HNGĐ cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do anh Th không có công việc và thu nhập ổn định nên chị D không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con cùng chị, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của chị D nên HĐXX cần công nhận. Anh Th được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, chị D không được ngăn cấm. Trong trường hợp anh Th lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị D được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Th.

Về tài sản và công nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét và giải quyết.

Về án phí: Buộc chị D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 BLTTDS; Căn cứ vào các Điều 51, 56; khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Lê Công Th.

2. Về con chung: Chị D và anh Th có một con chung cháu Lê Đăng Khoa - sinh ngày: 23/10/2013. Chấp nhận nguyện vọng của cháu Khoa và chị D. Giao cháu Khoa cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh Th không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D. Anh Th được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, chị D không được ngăn cấm. Trong trường hợp anh Th lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị D được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Th

3. Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4. Về án phí: Buộc chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2021/0012083 ngày 17 tháng 3 năm 2022 của Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị D đã thi hành xong phần án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt chị D vắng mặt anh Th, chị D được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và anh Th được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử lại theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ