vanban.org

Bản án 23/2022/DS-ST — Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị H.

Buộc bà Lâm Thị S trả bà Lâm Thị H số tiền 23.800.000 đồng (bằng chữ: hai mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng) Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Dân sự sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN H
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2022/DS-ST
Ngày 14-7-2022
V/v: tranh chấp đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN H, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Hồng Thắm

2. Phạm Thị Hồng Diễm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Trường, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Mau - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duyên H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 117/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 02 năm 2022, về việc “Tranh chấp đòi tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2022/QĐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lâm Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp Cái Đ, xã Long Kh, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh. Đề nghị xét xử vắng mặt

Bị đơn: Bà Lâm Thị S, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp Cái Đ, xã Long Kh, huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh. Vắng mặt không lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 22/11/2021 bà Lâm Thị H yêu cầu:

Bà Lâm Thị S có chơi hụi do bà làm đầu thảo 01 phần hụi trong dây hụi khui ngày 20/01/2019 âl, loại hụi 2.000.000đ/phần, gồm 26 phần, đến ngày 20/01/2021 thì mãn hụi. Bà S đã hốt hụi và đóng hụi chết được 11 lần, còn 15 lần với số tiền 30.000.000đ. Sau đó trả 6.200.000đ, còn 23.800.000đ thì ngưng trả nên bà khởi kiện bà S trả tiền hụi 23.800.000đ và không yêu cầu trả lãi.

Theo lời trình bày tại biên bản phiên họp, biên bản không hòa giải được cùng ngày 23/5/2022 bà H cho rằng từ năm 2010 bà bắt đầu làm đầu thảo hụi, mở nhiều dây hụi và có lập sổ theo dõi. Nhưng do có nhiều hụi viên hốt hụi mà không đóng hụi chết, bà phải đóng chàng hụi nhiều năm, đến ngày 30/4/2021 thì không còn khả năng nên bà tuyên bố bể hụi. Số tiền hụi bà thiếu các hụi viên thì có một số người khởi kiện bà và được Tòa án huyện Duyên H thụ lý, giải quyết hòa giải thành. Ngoài ra, một số hụi viên khác thiếu tiền hụi chết của bà có thỏa thuận chốt nợ bằng các biên nhận, trong đó có bà Lâm Thị S thừa nhận còn thiếu 23.800.000đ theo biên nhận nợ ngày 20/10/2021 và có ký tên, bà đã cung cấp bản chính biên nhận nợ. Vì vậy bà yêu cầu bà Lâm Thị S trả số tiền 23.800.000đ theo biên nhận và không yêu cầu trả lãi chậm trả. Bà H đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt do bận việc đi làm xa (TP. HCM).

Tại biên bản lấy lời khai ngày 26/5/2022 đối với bị đơn bà Lâm Thị S cho rằng:

Bà S thừa nhận có chơi hụi do bà Lâm Thị H làm đầu thảo và thừa nhận còn thiếu bà H số tiền 23.800.000đ và có ký tên biên nhận ngày 20/10/2021. Bà đồng ý trả bà H số tiền 23.800.000đ theo bà H yêu cầu. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án đối với thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ và một số nội dung khác từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chấp hành có mặt và yêu cầu xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt không lý do.

Về việc giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện, lời trình bày của nguyên đơn có làm đầu thảo dây hụi khui ngày 20/01/2019 âl, loại hụi 2.000.000đ/phần, gồm 26 phần, bà S chơi 01 phần và đã hốt hụi, xong đóng hụi chết 11 lần, còn 15 lần với số tiền 30.000.000đ. Sau đó, bà S trả 6.200.000đ, còn 23.800.000đ nên bà Hg đòi bà S trả 23.800.000đ này và không yêu cầu trả lãi.

Theo lời khai của bà S thừa nhận có chơi hụi đúng như đơn khởi kiện của bà Lâm Thị H và thừa nhận có ký biên nhận nợ tiền hụi 23.800.000đ và đồng ý trả theo yêu cầu của bà H.

Qua đánh giá các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nhận thấy: Bà S có tham gia góp hụi mở ngày 20/01/2019 âl do bà H làm đầu thảo, hụi 2.000.000đ/phần, gồm 26 phần là có thật. Trong quá trình làm việc, thì bà S thừa nhận và ký tên xác nhận nợ thiếu bà H là 23.800.000đ tại biên nhận ngày 20/10/2021 coi như hai bên đã chốt nợ.

Từ các lẽ nêu trên: Căn cứ khoản 3 điều 26, khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39, 147, 227 và điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị H; Buộc bà Lâm Thị S trả cho bà Lâm Thị H số tiền 23.800.000đ; Về án phí: Buộc bà Lâm Thị S nộp án phí dân sự sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị đề nghị cần khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sự vắng mặt tại phiên tòa của bà Lâm Thị H là có đề nghị xét xử vắng mặt, đối với bà Lâm Thị S là vắng mặt không lý do, không đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Xét thấy, bà S được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, việc cấp tống đạt quyết định, thông báo, giấy triệu tập là thực hiện theo quy định Điều 177, 179 của Bộ luật tố tụng dân sự là giao cho đương sự nhận trực tiếp. Căn cứ vào điều 227, điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện ngày 22/11/2021 bà Lâm Thị H yêu cầu bà Lâm Thị S trả tiền hụi 23.800.000 đồng nên khi thụ lý ban đầu vụ án được xác định là tranh chấp hợp đồng góp hụi. Sau đó, qua lời khai xác nhận của bà H tại các biên bản ngày 23/5/2022, tài liệu chứng cứ bà H cung cấp là biên nhận nợ ngày 20/10/2021 thể hiện bà S thiếu số tiền 23.800.000 đồng, cũng như sự thừa nhận của bà Lâm Thị S. Do đó, Tòa án có thông báo về thay đổi quan hệ pháp luật tranh chấp từ việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” thành việc “Tranh chấp đòi tài sản” để giải quyết.

Nội dung vụ án, căn cứ vào biên nhận nợ ngày 20/10/2021 (bút lục 24), bà Lâm Thị H cho rằng bà Lâm Thị S còn thiếu số tiền 23.800.000 đồng và yêu cầu bà S trả 23.800.000 đồng, nội dung biên nhận thể hiện:

“ ...

Biên nhận

Tên họ: Lâm Thị S sinh năm 1977

có thiếu bà Lâm Thị H

Số tiền 23.800.000

Hai mươi ba triệu tám trăm ngàn

người nợ

chủ nợ

(ký tên S)

(ký tên H)

Lâm Thị S

Lâm Thị H”

Đối với bà Lâm Thị S thì vắng mặt trong các lần triệu tập đối chất, thông báo hòa giải, nhưng tại biên bản lấy lời khai ngày 26/5/2022 liên quan về dây hụi bà tham gia do bà H làm đầu thảo, liên quan nội dung biên nhận nợ, bà S thừa nhận là đúng sự thật, không có ý kiến phản đối hoặc yêu cầu phản tố, bà đồng ý trả số tiền 23.800.000 đồng theo bà H yêu cầu. Nhận thấy, do đương sự thừa nhận nên đây là tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo khoản 2 điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H đối với bà S về số tiền 23.800.000 đồng.

Quan điểm phát biểu của Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn theo điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, 147, 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị H.

Buộc bà Lâm Thị S trả bà Lâm Thị H số tiền 23.800.000 đồng (bằng chữ: hai mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng)

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc bà Lâm Thị S chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 1.190.000 đồng (bằng chữ: một triệu, một trăm chín mươi nghìn đồng)

Trả lại bà Lâm Thị H tiền tạm ứng án phí đã nộp 595.000 đồng (bằng chữ: năm trăm chín mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006882 ngày 14/12/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên H, tỉnh Trà Vinh.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án (tất cả các khoản tiền) theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hợp lệ hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ