- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2022/DS- ST Ngày: 27/6/2022 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Quách Hà Vính
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa không tham gia phiên toà.
Ngày 27/6/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2022/TLST- DS, ngày 21 tháng 4 năm 2022 về việc “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2022/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Anh Trần Văn C, sinh năm 1991
Chị Lê Thị H; Sinh năm: 1990
Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn:
Bà Nguyễn Thị M; sinh năm: 1969
Ông Bùi Văn N; sinh năm: 1970
Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt các đương sự
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/4/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Trần Văn C và chị Lê Thị H trình bày:
Trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2022 đến ngày 17/01/2022 bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Văn N có vay vợ, chồng anh, chị 03 lần tiền tổng cộng số tiền vay là 700.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng). Khi vay hai bên không thỏa thuận lãi suất và thỏa thuận thời hạn trả nợ là ngày 13/02/2022. Tuy nhiên đến hẹn trả nợ anh, chị đòi nợ nhưng bà M và ông N vẫn không trả được lần tiền nào. Sau đó bà M và ông N trốn tránh không chịu trả nợ. Đến nay anh, chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M và ông N phải trả cho anh, chị tổng số tiền gốc đã vay là 700.000 đồng ( Bảy trăm triệu đồng) và không yêu cầu trả tiền lãi số tiền gốc đã vay.
Tại bản tự khai ngày 18/5/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày:
Bà thừa nhận có vay của anh C và chị H 04 lần tiền với tổng số tiền là 750.000.000 đồng, trong đó có 03 lần vay tiền như anh C và chị H đã yêu cầu khởi kiện và 01 lần bà vay số tiền 50.000.000 đồng. Quá trình vay nợ bà đã trả được cho anh C và chị H số tiền gốc là 200.000.000 đồng và số tiền lãi đến tháng 11/2021. Sau đó do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên bà không tiếp tục trả tiền gốc và lãi được nữa. Mục đích của bà vay tiền để buôn bán và đầu tư vào trồng trọt, làm kinh tế gia đình nhưng bị thua lỗ, sau đó phải vay chỗ này để trả tiền lãi cho chỗ khác. Đến nay anh C và chị H yêu cầu bà phải trả tiền gốc đã vay 700.000.000 đồng bà không đồng ý vì bà đã trả được 200.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi nhiều cho anh C và chị H nên bà đề nghị chỉ trả cho anh C và chị H số tiền 300.000.000 đồng. Tuy nhiên bà chưa xác định được thời gian trả nợ cho anh C và chị H.
Tại bản tự khai ngày 18/5/2022 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Bùi Văn N trình bày:
Ông chỉ biết vợ ông là bà Nguyễn Thị M có vay tiền của một số hộ gia đình hàng xóm trong đó có gia đình chị H, anh C. Tuy nhiên cụ thể vay bao nhiêu tiền thì ông không biết. Mục đích ban đầu của vợ ông vay tiền là đầu tư kinh tế gia đình sau đó bị thua lỗ. Việc vợ ông đứng ra vay tiền của anh C và chị H ông không được trực tiếp sử dụng số tiền vay nên không đồng ý cùng bà M trả nợ và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
. Về tố tụng: Anh C, chị H và bà M, ông N đang tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” do bà M và ông N vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) thì đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là ông N và bà M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Phố, xã Thạch Quảng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành.
. Việc bà Nguyễn Thị M vay tiền của anh Trần Văn C, chị Lê Thị H, tổng số tiền là 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng) được thể hiện trong giấy vay tiền mà chị H, anh C giao nộp cho Tòa án. Trong giấy vay tiền ghi rõ số tiền vay, ngày vay tiền, ngày trả nợ và có chữ ký (ghi rõ họ tên) của người vay là bà M. Việc này, bản thân bà M cũng thừa nhận. Như vậy hợp đồng vay tài sản giữa các bên đã được xác lập bằng văn bản, là hợp đồng hợp pháp.
. Trong các giấy vay tiền hai bên thỏa thuận với nhau, thời hạn trả nợ của cả 3 khoản vay là vào ngày 13/02/2022. Đến nay thời hạn trả nợ đã hết, anh C và chị H khởi kiện yêu cầu bà M và ông N phải trả số tiền gốc là 700.000.000đ. Bà M cho rằng đã trả được số tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi đến tháng 11/2021, nhưng bà M không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Ông N không ký vào giấy vay tiền, không đồng ý cùng bà M trả nợ, nhưng ông N biết bà M vay tiền của anh C, chị H để làm kinh tế gia đình. Do đó yêu cầu của anh C và chị H là phù hợp với thỏa thuận mà hai bên đã giao kết và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh C và chị H. Buộc bà M và ông N phải có trách nhiệm trả cho anh C và chị H tổng số tiền gốc 700.000.000 đồng.
Về án phí: Do yêu cầu của anh C và chị H được Tòa án chấp nhận toàn bộ nên bà M và ông N phải chịu toàn bộ án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, 463; Khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
1. Buộc bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Văn N phải trả cho anh Trần Văn C và chị Lê Thị H số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng)
Kể từ khi Nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án, hàng tháng bà M và ông N còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M và ông Bùi Văn N phải chịu 32.000.000đ (Ba mươi hai triệu đồng) tiền án phí DSST. Trả lại cho anh Trần Văn C và chị Lê Thị H số tiền là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng) tiền tạm ứng án phí DSST mà anh C và chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0007611 ngày 19/4/2022.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thạch Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. Các hội thẩm nhân dân Đinh Văn Tân Nguyễn Thị Hà | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Văn Hải HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Hải |