vanban.org

Bản án 23/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước Tuyên án 23/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Ngô Đức Ngh phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt Ngô Đức Ngh 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai năm) tính từ ngày tuyên án (23/4/2021). Giao bị cáo về UBND xã N Ch, huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Ngô Đức Ngh phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HỆN B Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 23/2021/HS-ST
Ngày: 23/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGH VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN B Đ – TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Bà Lâm Thị Chức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Hoàng Thị Quýt

Bà: Điểu Thị Hương

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hưng - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện B Đ tham gia phiên tòa: ông Hoàng Ngọc Lâm – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện B Đ, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2021/HSST ngày 16 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2021 và thông báo dời lịch xét xử số: 02/2021/TB-TA, ngày 12/4/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Đức Ngh, sinh năm: 1996; Tên gọi khác: Không; HKTT: thôn 06, xã N Ch, Huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Ngô Đức B; sinh năm: 1951; Con bà: Hà Thị Diễm Th, sinh năm: 1966; Vợ tên: Phạm Thị Ngọc Th1, sinh năm: 1997; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

Về nhân thân: Ngày 28/11/2012 bị Tòa án nhân dân Huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Bị cáo bị tạm giam, tạm giữu từ ngày 29/12/2020 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, Ngh vụ liên quan: Lê Hoàng H; Sinh năm: 1994; HKTT: thôn 1, xã Đ H, huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận – Vắng mặt.

Người làm chứng: ông Lê Hoàng T; Sinh năm: 1956; HKTT: thôn 1, xã Đ H, huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 19 giờ 30 ngày 29/12/2020, Công an huyện B Đ phối hợp với Công an thị trấn Th B tiến hành kiểm tra, kiểm soát tại khu vực khu phố Th B, thị trấn Th B, Hện B Đ, tỉnh Bình Phước phát hiện Lê Hoàng T đang điều khiển xe ô tô, hiệu Huynhdai, loại Grand, màu trắng, biển kiểm soát: 86A-05277 chở Ngô Đức Ngh. Qua kiểm tra phát hiện: phía sau cốp xe có chứa 01 thùng giấy được dán kín bằng băng keo, bên trong thùng giấy có chứa 04 khối hình lập phương, có kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, ký hiệu 4049 (nghi là pháo) có tổng trọng lượng 6,2kg.

Qúa trình điều tra xác định: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29/12/2020, Ngô Đức Ngh điện thoại cho một người đàn ông tên H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực xã Th H, huyện B Đ để hỏi mua pháo nổ về sử dụng, H1 đồng ý. Ngh thuê xe ô tô hiệu Huynhdai, loại Grand, màu trắng, biển kiểm soát: 86A-05277 do anh Lê Hoàng T làm tài xế, đi từ nhà thuộc xã N Ch, huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận đến huyện B Đ với giá 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng). Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi anh T đã chở Ngh đến thị trấn Th B, Huyện B Đ, H1 gọi điện thoại cho Ngh nói đi đến khu vực thuộc xã Th H, huyện B Đ (gần nhà nghỉ Vũ D) để lấy pháo. Khi đến chỗ hẹn, Ngh xuống xe gặp H1 và mua của H1 04 hộp pháo hoa (hình lập phương, có kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, ký hiệu 4049; được để trong 01 thùng giấy được dán kín bằng băng keo) với giá 2.720.000đ (hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Sau đó, Ngh đặt thùng pháo lên cốp xe ô tô. T điều khiển xe chở Ngh về lại tỉnh Bình Thuận, khi đi đến khu vực khu phố Th B, thị trấn Th B, huyện B Đ thì bị Tổ tuần tra Công an huyện B Đ phát hiện bắt giữ cùng tang vật bao gồm: 04 khối hình lập phương, có kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, ký hiệu 4049, có tổng trọng lượng 6,2kg; 01 thùng giấy có kích thước (33x 25 x 24)cm; 01 xe ô tô, hiệu Hndai, loại Grand, màu trắng, biển kiểm soát: 86A-05277; 01 giấy đăng ký xe ô tô số 009339 do Công an tỉnh Bình Thuận cấp ngày 14/11/2016; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 2565179; 01 điện thoại di động màu xanh, bên ngoài có ghi chữ Samsung, số kiểu máy: SM-A205F/DS;

Tại kết luận giám định số: 222/C09B ngày 05/01/2021 của phân viện khoa học hình sự tại Tp. Hồ Chí Minh kết luận: 04 khối hình lập phương, có kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài bìa giấy có ghi ký hiệu “4049”, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm gửi giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, bên trong có chứa thành phần thuốc pháo. Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 6,2kg.

Cáo trạng số: 19/CTr-VKS ngày 16 tháng 3 năm 2021, của Viện kiểm sát nhân dân Hện B Đ truy tố bị cáo Ngô Đức Ngh về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện VKSND huyện B Đ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố Ngô Đức Ngh phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

+ Áp dụng: khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015. Đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo Ngô Đức Ngh từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác như cáo trạng đã công bố.

Bị cáo không tham gia tranh luận và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an Hện B Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện B Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị báo, đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Về nội dung vụ án: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 29/12/2020, Ngô Đức Ngh điện thoại cho một người đàn ông tên H1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) ở khu vực xã Th H, huyện B Đ để hỏi mua pháo nổ về sử dụng, H1 đồng ý. Ngh thuê xe ô tô hiệu Huynhdai, loại Grand, màu trắng, biển kiểm soát: 86A-05277 do anh Lê Hoàng T làm tài xế, đi từ nhà thuộc xã N Ch, huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận đến huyện B Đ với giá 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng). Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, khi anh T đã chở Ngh đến thị trấn Th B, huyện B Đ, H gọi điện thoại cho Ngh nói đi đến khu vực thuộc xã Th H, huyện B Đ (gần nhà nghỉ Vũ D) để lấy pháo. Khi đến chỗ hẹn, Ngh xuống xe gặp H1 và mua của H1 04 hộp pháo hoa (hình lập phương, có kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, ký hiệu 4049; được để trong 01 thùng giấy được dán kín bằng băng keo) với giá 2.720.000đ (hai triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng). Sau đó, Ngh đặt thùng pháo lên cốp xe ô tô. T điều khiển xe chở Ngh về lại tỉnh Bình Thuận, khi đi đến khu vực khu phố Th B, thị trấn Th B, huyện B Đ thì bị Tổ tuần tra Công an huyện B Đ phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tại kết luận giám định số: 222/C09B ngày 05/01/2021 của phân viện khoa học hình sự tại Tp. Hồ Chí Minh kết luận: 04 khối hình lập phương, có kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài bìa giấy có ghi ký hiệu “4049”, bên trong mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm gửi giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, bên trong có chứa thành phần thuốc pháo. Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 6,2kg.

Hành vi của bị cáo Ngô Đức Ngh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm”. Do đó, cáo trạng số: 19/CTr-VKS ngày 16 tháng 3 năm 2021 của VKSND huyện B Đ và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với Ngô Đức Ngh là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Xét tính chất mức độ của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản suất, kinh doanh một số loại hàng cấm. Bị cáo nhận thức rõ pháo thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Điều này thể hiện rõ thái độ xem thường pháp luật của bị cáo rất là cao. Vì vậy, cần xử phạt mức án thật nghiêm tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của của mình; Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính duy nhất trong gia đình; vợ bị cáo đang mang thai và nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; Mẹ bị cáo hiện đang bị bệnh nặng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ hình phạt quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

. Về nhân thân:

Ngày 28/11/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận xử phạt 30 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại Bản án số: 115/2012/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong, đã được xóa án tích.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Đối chiếu với Nghị quyết số 02/2018 /NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự thì bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo; Bị cáo có nơi cứ trú rõ ràng, chỉ cần giao bị cáo về địa phương nơi cứ trú giám sát cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô, hiệu Huynhdai, loại Grand, màu trắng, biển kiểm soát: 86A-05277; 01 giấy đăng ký xe ô tô số 009339 do Công an tỉnh Bình Thuận cấp ngày 14/11/2016; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 2565179, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Lê Hoàng H (con trai anh Lê Hoàng T), xét thấy không liên quan đến việc phạm tội. CQCSĐT đã trả lại cho anh H là có căn cứ.

Đối với 4,7kg pháo nổ còn lại sau giám định đây là đồ vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 thùng giấy có kích thước (33x 25 x 24)cm sử dụng để đựng pháo, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động màu xanh, bên ngoài có ghi chữ Samsung, số kiểu máy: SM-A205F/DS, là tài sản của Ngô Đức Ngh, sử dụng vào việc phạm tội nên cần tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, không có công việc có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về các vấn đề khác:

Đối với Lê Hoàng T đã có hành vi điều khiển xe chở Ngh đến huyện B Đ, tuy nhiên anh T không biết Ngh đến Hện B Đ để mua pháo nổ, không biết bên trong thùng giấy được dán kín bằng băng keo có chứa pháo nổ. Vì vậy CQCSĐT không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với người đàn ông tên H1, Ngh khai nhận H1 là người đã bán pháo cho Ngh, Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên không đề cập xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác của vị đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Ngô Đức Ngh phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Ngô Đức Ngh 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai năm) tính từ ngày tuyên án (23/4/2021).

Giao bị cáo về UBND xã N Ch, huyện Đ L, tỉnh Bình Thuận giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

[2]. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của BLHS, Điều 106 BLTTHS tuyên:

Tịch thu tiêu hủy đối với 4,7kg pháo nổ; 01 (một) thùng giấy có kích thước (33x 25 x 24) cm sử dụng để đựng pháo

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động màu xanh, bên ngoài có ghi chữ Samsung, số kiểu máy: SM-A205F/DS.

(Số vật chứng trên đã được giao nhận cho Chi cục thi hành án dân sự dân sự huyện B Đ theo Biên bản giao nhận vật chứng số 0007686 ngày 16/3/2021).

[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi Ngh vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ