vanban.org

Bản án 23/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 23/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Hà Viết T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Hà Viết T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 12/12/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Viết T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Hà Viết T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ANH SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số:23 /2021/HSST
Ngày 23/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ANH SƠN – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Phú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Khoa, bà Phạm Thị Thúy Hằng

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh N.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 23/3/2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2021/HSST ngày 01 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Viết T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06/7/1995; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: bản C, xã P, huyện A, tỉnh N; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Họ tên cha: Hà Văn Ước – Sinh năm 1967; Họ tên mẹ: Lê Thị P – Sinh năm 1969; Vợ: Lê Thị Á – Sinh năm 2001; Con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020; Hiện cha, mẹ, vợ, con bị cáo đang cư trú tại: bản C, xã P, huyện A, tỉnh N; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 77/2012/HS-ST ngày 15/10/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố KonTum, tỉnh KonTum xử phạt Hà Viết T 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” , đã chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích; Bản án số 138/2013/HS-ST ngày 21/11/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố KonTum, tỉnh KonTum xử phạt Hà Viết T 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” , đã chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/12/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N - Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hùng – Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N – Có mặt.

- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn H – Sinh năm 1980

Địa chỉ: thôn 3, xã K, huyện A, tỉnh N – Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1, Bà Lê Thị P – Sinh năm 1969

Địa chỉ: bản V, xã P, huyện A, tỉnh N – Có mặt.

2, Ông Lương Văn D – Sinh năm 1965

Địa chỉ: bản V, xã P, huyện A, tỉnh N – Vắng mặt.

3, Chị Đinh Thị T – Sinh năm 1980

Địa chỉ: thôn 3, xã P, huyện A, N – Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ ngày 01/12/2020, Hà Viết trên đường đi từ huyện Đô Lương, tỉnh N về huyện A, tỉnh N qua địa phận thôn 10, xã Long Sơn, huyện A, tỉnh N thì phát hiện thấy có 01 chiếc máy cưa xăng nhãn hiệu HUSQVARNA 372XP sản xuất năm 2008 của anh Nguyễn Văn H, buộc trên yên xe máy của anh H dựng ở bên phải đường Quốc lộ 7A không có ai trông coi. Lúc này, Tiến nảy sinh ý định trộm cắp chiếc máy cưa xăng nên Tiến quay xe lại gần chiếc xe máy có buộc chiếc máy cưa của anh Học, tháo dây buộc và lấy trộm chiếc máy cưa nói trên. Sau khi lấy trộm được máy cưa, Hà Viết T đưa máy cưa vừa trộm được về nhà mẹ của Tiến là bà Lê Thị P để sử dụng vào việc cắt củi. Bà Lê Thị P thấy Tiến đưa máy cưa xăng về nhà thì hỏi Hà Viết T “Máy cưa của ai đó”, Tiến trả lời “Mua rẻ của người ta với giá 1.500.000 đồng”. Nghe vậy, bà Lê Thị P tin tưởng chiếc máy cưa đó là của Hà Viết T mua nên không hỏi gì thêm. Hà Viết T sử dụng máy cưa trộm của anh Học cắt củi 2 ngày thì máy cưa bị hỏng, Tiến nhờ mẹ là bà Lê Thị P mang máy cưa đi sửa. Ngày 08/12/2020, bà Lê Thị P nhờ ông Lương Văn D tại chở và đưa máy cưa đến cửa hàng của chị Đinh Thị T tại thôn 3, xã P, huyện A, tỉnh N để sửa. Tuy nhiên, vì chi phí sửa chiếc máy cưa quá cao nên ngày 12/12/2020, bà P nhờ ông D lấy máy cưa đưa về. Tại thời điểm đó, anh Nguyễn Văn H tình cờ phát hiện chiếc máy cưa ông Diệu đưa từ cửa hàng chị Đinh Thị T là chiếc máy cưa của anh Học bị mất trộm từ ngày 01/12/2020 nên đã lập tức trình báo cơ quan công an xã Long Sơn, huyện A, tỉnh N. Cùng ngày, cơ quan công an xã Long Sơn đã chuyển toàn bộ hồ sơ ban đầu cùng vật chứng của vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện A để điều tra, xử lý theo quy định.

Tại bản Kết luận Định giá tài sản số 29/KL-ĐG ngày 17/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện A đã kết luận Chiếc máy cưa Hà Viết T lấy trộm được của anh Nguyễn Văn H tại thời điểm lấy trộm có giá trị là 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng)

- Về vật chứng: 01 máy cưa xăng màu đỏ vàng nhãn hiệu Husgvarna 372 XP đã qua sử dụng, không có lưỡi cưa; 01 lam máy cưa xăng dài 60cm của máy cưa nhãn hiệu Husgvarna 372 XP; 01 lưỡi cưa dạng xích của máy cưa nhãn hiệu Husgvarna 372 XP đã qua sử dụng (lam cưa và lưỡi cưa là bộ phận của máy cưa xăng nhãn hiệu Husgvarna 372XP) . Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm thủ tục trả lại toàn bộ vật chứng cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn H.

- Về mặt dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Văn H hiện đã nhận lại đầy đủ các tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về dân sự , đồng thời đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 12/Ctr - VKS ngày 29/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh N đã truy tố bị cáo Hà Viết T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh N giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Viết T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét bị cáo Hà Viết T quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại địa bàn biên giới đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hà Viết T thống nhất với quan điểm của người bào chữa, không tranh luận gì thêm.

Lời nói sau cùng, bị cáo nói: Hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận:

Vào khoảng 9 giờ ngày 01/12/2020, tại địa phận thôn 10, Long Sơn, huyện A, tỉnh N, Hà Viết T đã có hành vi trộm cắp chiếc máy cưa xăng nhãn hiệu HUSQVARNA 372XP sản xuất năm 2008 của anh Nguyễn Văn H với mục đích đưa về nhà để sử dụng. Giá trị tài sản mà Tiến đã trộm cắp là 5.400.000 đồng (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Hà Viết T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS như bản cáo trạng đã truy tố là đúng pháp luật.

Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của bị cáo là liều lĩnh, coi thường pháp luật. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi đó không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương và gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đã phạm.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân rất xấu, trước lần phạm tội này bị cáo đã từng bị TAND TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum 02 lần đưa ra xét xử và kết án cùng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ việc đánh giá về tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng : Hành vi của bị cáo là liều lĩnh, coi thường pháp luật, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân rất xấu. Điều đó cho thấy bị cáo là người thiếu ý thức tu dưỡng bản thân, liên tục lao vào con đường phạm tội. Do đó phải xử lý thật nghiêm, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ dài mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên xét thấy sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, người bị hại xin giảm nhẹ một phần hình phạt, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Trong vụ án này có bà Lê Thị P (mẹ của Hà Viết T), ông Lương Văn D là người được Hà Viết T nhờ đưa chiếc máy cưa đi sửa tại cửa hàng Giang Hồng và nhận máy cưa từ cửa hàng Giang Hồng để mang về. Do bà P và ông D không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra Công an huyện A không xử lý đối với bà P và ông D là đúng quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

01 máy cưa xăng màu đỏ vàng nhãn hiệu Husgvarna 372 XP đã qua sử dụng, không có lưỡi cưa; 01 lam máy cưa xăng dài 60cm của máy cưa nhãn hiệu Husgvarna 372 XP; 01 lưỡi cưa dạng xích của máy cưa nhãn hiệu Husgvarna 372 XP đã qua sử dụng (lam cưa và lưỡi cưa là bộ phận của máy cưa xăng nhãn hiệu Husgvarna 372XP) . Quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã làm thủ tục trả lại toàn bộ vật chứng cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn H là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra người bị hại anh Nguyễn Văn H đã được trả lại tài sản do Hà Viết T trộm cắp, nay người bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên HĐXX không xét.

Về án phí: Bị cáo Hà Viết T phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố: Bị cáo Hà Viết T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Hà Viết T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo, ngày 12/12/2020.

2/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điều 23 Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Buộc bị cáo Hà Viết T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

3/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã nơi người vắng mặt cư trú.

Cỡ chữ