- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Các bị cáo Đào Xuân L, Lê Minh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Luật Phí; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/ 2021/ HS - ST Ngày: 31 - 5 - 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thân – Nghề nghiệp: Giáo viên, hiện đang làm việc tại Trường Trung học cơ sở Nguyễn Du, thành phố Sông Công
2. Ông Lưu Xuân Hiến – Nghề nghiệp: Công chức, hiện đang làm việc tại Ủy ban nhân dân phường Cải Đan, thành phố Sông Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Xuân Trà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/ 2021/TLST- HS ngày 19 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Đào Xuân L, sinh ngày 29/9/1999, tại: thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Đội Cấn, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Đào Xuân Lương và bà: Trần Thị Lan (đã chết); bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Có 01 tiền án: bản án số 454/ 2018/ HS – ST ngày 19/11/2018, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt bị cáo L 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”(ngày 07/01/2019 chấp hành xong hình phạt); tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2021 cho đến nay, hiện đang giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
2. Lê Minh Q, sinh ngày 19/5/2004; tại: huyện Võ Nhai – tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Đồng Mới (trước là xóm Nà Pheo), xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 6/12; Dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Văn Khởi và bà: Hứa Thị Nghĩa; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 01/5/2019, bị cáo bị Công an huyện Võ Nhai xử phạt vi phạm hành chính “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
Người đại diện cho bị cáo Q (là bố bị cáo): Ông Lê Văn Khởi, sinh năm 1963; địa chỉ: xóm Đồng Mới (trước là xóm Nà Pheo), xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt);
Người bào chữa cho bị cáo Q: Bà Nguyễn Thị Dung – Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
- Người bị hại:
+ Anh Triệu Tài Kh, sinh năm 2001; địa chỉ: xóm Làng Mười, xã Dân Tiến, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt);
+ Anh Lường Văn Q, sinh năm 1988; địa chỉ: xóm Bản Đén, xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lê Văn Kh - sinh năm 1963, bà Hứa Thị Ngh – sinh năm 1965 (là bố, mẹ bị cáo Q); địa chỉ: xóm Đồng Mới (trước là xóm Nà Pheo), xã Phú Thượng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt);
+ Ông Nguyễn Thiện D, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt);
+ Anh Phạm Trọng Thành, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn P, xã C, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 2000; địa chỉ: xóm Đ xã N, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt);
+ Ông Phạm Quang V, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường B, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quan hệ quen biết từ trước, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/12/2020, Đào Xuân L, Lê Minh Q và Nguyễn Mạnh Dũng (sinh năm 2003, trú tại: xóm La Vương, xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên) ăn cơm tại phòng trọ của L tại tổ dân phố Làng Mới, phường Bách Quang, thành phố Sông Công. Sau khi ăn cơm xong, nghe Dũng rủ L đi trộm cắp hoa quả lấy tiền tiêu sài, Q đã rủ bảo L và Dũng cùng nhau đi trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền chia nhau. Do trước đây L đã từng làm việc tại Công ty Sung Nam Vina tại tổ dân phố Tân Dương, phường Bách Quang, thành phố Sông, nên L nói với Q và Dũng ở sân của Công ty có nhiều xe mô tô của công nhân đi làm, dễ lấy trộm. Nghe L nói vậy, Dũng và Q đồng ý, cả ba thống nhất, sau khi lấy trộm được xe mô tô thì sẽ dắt bộ ra ngoài để cậy yếm, đấu nối dây điện để nổ máy xe rồi cùng nhau bỏ trốn. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, cả ba đến Công ty Sung Nam Vina có địa chỉ nêu trên. L đứng phía sau xe ô tô tải đỗ trong sân Công ty để cảnh giới, Q và Dũng vào sân của Công ty, nơi để xe mô tô để trộm cắp. Khi Dũng và Q vào đến sân thì phát hiện thấy 02 xe mô tô không khóa cổ, Q dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner biển số 20D1 - 186.34, Dũng dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 20N3 - 7468. Khi ra khỏi cổng Công ty thì L đi đến đẩy xe cùng Dũng, rồi cả ba cùng nhau đi về hướng Công ty TNG khoảng 100 mét thì rẽ vào một ngõ bên trái để tìm cách nổ máy xe. Tại đó, Q cậy yếm chiếc xe Honda Winner, L cùng Dũng cậy yếm xe Yamaha Sirius để đấu dây điện nổ máy. Sau khi xe mô tô nổ máy, Q điều khiển chiếc xe Honda Winner chở L, còn Dũng điều khiển xe Yamaha Sirius cùng nhau đi về khu dân cư Hồng Thái, huyện Đồng Hỷ. Trên đường đi, Q tháo Biển kiểm soát xe Honda Winner ném vào bụi cây rìa đường, rồi điều khiển xe đi về huyện Võ Nhai, còn L và Dũng quay lại thành phố Sông Công. Khi về gần đến phòng trọ, L bảo Dũng giấu chiếc xe ở phía sau Đền Liệt sỹ thuộc phường Bách Quang, rồi cả hai đi bộ về phòng trọ. Đến khoảng 10 giờ ngày 21/12/2020, Dũng và L quay lại lấy xe đi bán thì không thấy chiếc xe Yamaha Sirius đâu nữa.
Đối với Q, sau khi trộm cắp được chiếc xe Honda Winner X biển số 20D1 - 186.34, Q đem về nhà sử dụng, nói dối gia đình là xe Q mua trả góp. Đến khoảng cuối tháng 12/2020, Q cùng Dũng mang chiếc xe mô tô Honda Winner X biển số 20D1 - 186.34 đến cửa hàng cầm đồ, mua bán xe máy cũ Ngọc Long của ông Nguyễn Thiện Dương tại thôn Giai Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh để cầm cố vay tiền. Ông Dương hỏi đăng ký xe thì Q nói bố Q đang cầm. Sau đó Q để lại Giấy chứng minh nhân dân và cầm cố chiếc xe, vay của ông Dương 7.000.000 đồng, ông Dương nhận cầm cố và đưa tiền cho Q. Đến ngày 03/01/ 2021, Q cùng bố là ông Lê Văn Khởi đến gặp ông Dương trả 7.400.000 đồng, lấy xe mô tô về. Đến ngày 11/01/2021, Q tiếp tục đến cửa hàng của ông Dương để cầm cố xe. Tại đây, Q gặp ông Dương và anh Phạm Trọng Thành (là người làm tại quán của ông Dương), Q nói “cho cháu để lại chiếc xe, cháu lấy giấy tờ xuống sau”, anh Thành hỏi Q về nguần gốc xe, Q nói xe của bố mua, giấy tờ xe bố đang cầm. Lúc này, ông Dương nói “xe này đã cầm ở đây một lần và bố nó đã xuống lấy xe về” và ông Dương đã đồng ý cho Q cầm cố chiếc xe trên để vay số tiền 7.000.000 đồng. Khoảng 10 ngày sau không thấy Q đến lấy xe, nên ông Dương đã bảo Thành bán xe đi, Thành đã sử dụng mạng xã hội Facebook đăng thông tin bán xe thì có một nam thanh niên (Thành không biết tên tuổi, địa chỉ) nhắn tin hỏi mua. Sau đó người này đến gặp Thành tại cửa hàng Ngọc Long và mua chiếc xe mô tô trên với giá 11.500.000 đồng.
Sau khi phát hiện bị mất xe mô tô, các công nhân Công ty Sung Nam Vina là anh Lường Văn Quyền là chủ xe mô tô Yamaha Sirius, BKS 20N3- 7468 và anh Triệu Tài Khải là chủ xe mô tô Honda Winner X, BKS 20D1 - 186.34 có đơn trình báo Công an phường Bách Quang, đồng thời anh Khải giao nộp 01 đĩa CD chứa dữ liệu hình ảnh trộm cắp cho Công an phường Bách Quang. Công an phường Bách Quang đã chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sông Công giải quyết theo thẩm quyền (bút lục số 53-54; 68-71).
Ngày 12/12/2020, Công an phường Bách Quang truy tìm phát hiện thu giữ chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, BKS 20N3 - 7468 của anh Lường Văn Quyền tại khu đất trống phía sau nhà ông Phạm Quang Vinh thuộc tổ dân phố Làng Mới, phường Bách Quang, thành phố Sông Công (bút lục 55-56). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra cũng đã thu giữ được Biển kiểm soát 20D1 - 186.34của xe mô tô Honda Winner X. Còn chiếc xe Honda Winner X đến nay chưa thu hồi được (bút lục 74a).
Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sông Công, kết luận: Xe mô tô WinnerX, nhãn hiệu Honda, BKS 20D1 - 186.34 có giá trị là 40.000.000 đồng; Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Sông Công, kết luận: Xe mô tô Sirius RC, nhãn hiệu Yamaha, BKS 20N3 - 7468 có giá trị là 4.500.000 đồng (bút lục 76, 80).
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra dữ liệu điện tử thu giữ từ Camera an ninh của Công ty TNHH Sung Nam Vina thu giữ, bị cáo Q và Dũng xác định hình ảnh hai nam thanh niên thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc xe mô tô tối ngày 20/12/2020 là Q và Dũng (bút lục số 72a).
Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS: 20N3 - 7468 và chiếc Biển kiểm soát 20D1 - 186.34, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu để quản lý (bút lục số 85, 87). Đĩa CD lưu trữ hình ảnh trộm cắp ngày 20/12/2020 do các bị cáo thực hiện được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lường Văn Quyền đã nhận lại tài sản (xe mô tô Yamaha Sirius, BKS 20N3 - 7468), không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường (bút lục 88- 91). Tại phiên tòa, anh Triệu Tài Khải yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 40.000.000 đồng tương ứng với giá trị tài sản là chiếc xe bị mất.
Trong giai đoạn truy tố, bị can Nguyễn Mạnh Dũng đã bỏ trốn. Hết thời hạn truy tố, Viện kiểm sát đã ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với Nguyễn Mạnh Dũng, tách vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đào Xuân L và Lê Minh Q đều khai nhận về diễn biến, nội dung sự việc diễn ra đúng như đã nêu ở phần trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của Nguyễn Mạnh Dũng, lời khai những người bị hại Triệu Tài Khải và Lường Văn Quyền, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thiện Dương và Phạm Trọng Thành, những người làm chứng Nguyễn Văn Toản và Phạm Quang Vinh. Bị cáo Q và ông Dương, anh Thành đều khai, khi cầm cố xe mô tô Honda Winner X, BKS 20D1 - 186.34, Q đều nói với ông Dương và anh Thành là xe mô tô của Q, giấy tờ xe do bố Q giữ.
Tại bản cáo trạng số 29/ CT - VKS ngày 19/ 5/ 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố các bị cáo Đào Xuân L và Lê Minh Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo L, Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L từ 18 đến 24 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Q từ 09 đến 12 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho cả hai bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, đề nghị công nhận sự thỏa thuận, các bị cáo L và Q phải liên đới bồi thường cho người bị hại Triệu Tài Khải số tiền 40.000.000 đồng (phần bị cáo L phải bồi thường 20.000.000 đồng, Q bồi thường 20.000.000 đồng); nếu bị cáo Q không đủ tài sản để bồi thường, thì bố mẹ bị cáo Q là ông Khởi, bà Nghĩa phải bồi thường nốt số tiền còn lại thuộc về trách nhiệm của bị cáo Q. Về án phí, buộc các bị cáo L và Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các bị cáo L, Q, người đại diện bị cáo Q, người bị hại Khải, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Khởi, Nghĩa không có ý kiến tranh luận. Người bào chữa cho bị cáo Q nhất trí với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q; đề nghị công nhận sự thỏa thuận các bị cáo L và Q có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Khải số tiền 40.000.000 đồng (L bồi thường 20.000.000 đồng, Q 20.000.000 đồng) và các bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; tuy nhiên đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Q là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm i,s khoản 1 Điều 51, Điều 90,91,98,100 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Q từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên ý kiến đề nghị. Các bị cáo L, Q đều nói lời sau cùng, đến nay các bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của mình, bị cáo L xin được hưởng mức án thấp nhất, bị cáo Q xin được hưởng mức án từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm và sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 20/12/2020, tại phòng trọ của Đào Xuân L, sau khi nghe Nguyễn Mạnh Dũng rủ L đi trộm cắp hoa quả, Lê Minh Q rủ L và Dũng đi trộm cắp xe mô tô bán lấy tiền chia nhau tiêu sài. Đến khoảng 21 giờ, L, Q và Dũng đến Công ty Sung Nam Vina có địa chỉ tại tổ dân phố Tân Dương, phường Bách Quang, thành phố Sông Công. Tại đây, L đứng ngoài cảnh giới cho Q và Dũng trộm cắp 02 xe mô tô của anh Lường Văn Quyền và anh Triệu Tài Khải, với tổng trị giá là 44.500.000 đồng.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Đào Xuân L, Lê Minh Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật quy định:
“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …. thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Đối với Nguyễn Mạnh Dũng trong giai đoạn truy tố đã bỏ trốn, Viện kiểm sát đã ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can Dũng, tách vụ án và yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra truy nã bị can theo quy định.
Trong vụ án này, anh Phạm Trọng Thành do không biết chiếc xe mô tô Q cầm cố là tài sản do phạm tội mà có nên không có cơ sở xem xét, xử lý trách nhiệm. Đối với ông Nguyễn Thiện Dương, do không biết chiếc xe Q cầm cố là tài sản do phạm tội mà có, tin tưởng xe mô tô là của Q nên đã nhận cầm cố không có giấy đăng ký xe, Công an thành phố Sông Công ra quyết định xử lý hành chính đối với ông Dương là đúng quy định pháp luật.
Quá trình điều tra bị cáo Q còn khai, ngoài lần trộm cắp tài sản trên, bị cáo còn cùng các đối tượng khác thực hiện một số lần trộm cắp tài sản tại các huyện Võ Nhai, huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và huyện Quế Phong - tỉnh Nghệ An. Cơ quan điều tra Công an thành phố Sông Công đã chuyển tài liệu liên quan đến các Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai, huyện Đồng Hỷ và huyện Quế Phong điều tra theo thẩm quyền.
Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội; vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
3.2. Về vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, cả hai bị cáo L và Q đều là người thực hành, không ai là người cầm đầu, tổ chức. Các bị cáo cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản, bị cáo L đứng ngoài cảnh giới, để bị cáo Q và Nguyễn Mạnh Dũng trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô của người bị hại, sau đó cũng nhau phá khóa, đem 02 xe mô tô rời khỏi hiện trường.
3.3. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo đều sinh ra, lớn lên tại địa phương, có đủ khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo L đang có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Q hiện không có tiền án, tiền sự, nhưng vào thời điểm tháng 5/2019, bị cáo đã từng bị Công an huyện Võ Nhai xử phạt vi phạm hành chính, phạt “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngoài lần phạm tội này, bị cáo Q còn đang bị điều tra về hành vi cùng một số đối tượng khác trộm cắp tài sản ở địa bàn huyện khác thuộc tỉnh Thái Nguyên và huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An.
3.4. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, cả hai bị cáo L, Q đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; bị cáo Q được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo L phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Mặc dù tính chất hành vi phạm tội các bị cáo lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện rất manh động, gây tâm lý hoang mang cho người dân, đặc biệt là tại nơi xẩy ra tội phạm. Đối với bị cáo L tháng 11/2018 đã bị kết án phạt tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Q cũng đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp, ngoài ra hiện tại bị cáo còn đang bị điều tra về các hành vi trộm cắp tài sản cùng một số các đối tượng xẩy ra trên các địa bàn khác. Nên cần thiết phải xét xử các bị cáo bằng án phạt tù, buộc cả hai bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện đảm bảo cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc đến vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, để xét xử mức án phạt tù phù hợp. Bị cáo Q là người từ 16 đến 18 tuổi phạm tội, nên được áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cụ thể theo quy định tại khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt chính là hình phạt tù, thì mức phạt cao nhất được áp dụng đối với bị cáo không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Trong vụ án này, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Đào Xuân L.
Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo L để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lường Văn Quyền đã nhận lại tài sản (chiếc xe mô tô Yamaha Sirius, BKS 20N3 - 7468), không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Về số tiền 7.400.000 đồng, ông Lê Văn Khởi dùng để chuộc lại xe mô tô Honda Winner X, BKS 20D1 - 186.34 từ ông Dương, ông Khởi không yêu cầu bị cáo Q phải trả lại, không xem xét.
Tại phiên tòa, người bị hại Triệu Tài Khải yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền tương đương với giá trị tài sản là chiếc xe mô tô WinnerX, nhãn hiệu Honda, BKS 20D1 - 186.34 các bị cáo trộm cắp của anh Khải chưa thu hồi được, theo định giá là 40.000.000 đồng, các bị cáo, người đại diện bị cáo Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Khởi và bà Nghĩa đều đồng ý, thống nhất thỏa thuận các bị cáo L và Q phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Khải số tiền 40.000.000 đồng (phần L phải bồi thường là 20.000.000 đồng, Q 20.000.000 đồng). Sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, cần được Tòa án công nhận.
Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, các bị cáo L, Q và đối tượng Nguyễn Mạnh Dũng đã cùng nhau bàn bạc, cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên cùng phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại tài sản cho người bị hại Khải. Tuy nhiên hiện tại Dũng đã bỏ trốn, nên trong vụ án này, trước tiên các bị cáo Khởi và Q cùng phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Khải toàn bộ số tiền 40.000.000 đồng. Sau này khi bắt được Nguyễn Mạnh Dũng đưa ra xét xử, L và Q có quyền yêu cầu Dũng cùng phải có trách nhiệm liên đới đối bồi thường đối với số tiền 40.000.000 đồng các bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho anh Khải.
Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 20N3 - 7468 và chiếc Biển kiểm soát 20D1 - 186.34, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Lường Văn Quyền và anh Triệu Tài Khải là đúng quy định pháp luật. Đối với xe mô tô Honda Winner X, BKS 20D1 - 186.34, anh Thành đã bán lại cho người không rõ tên tuổi, địa chỉ đến nay chưa thu hồi được. Số tiền 7.000.000 đồng bị cáo Q cầm cố xe mô tô Honda Winner X, BKS 20D1 - 186.34 cho anh Thành, là tiền do mua bán, đổi chác tài sản trộm cắp mà có, cần được truy thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự, ngoài ra các bị cáo còn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện và người bào chữa cho bị cáo dưới 18 tuổi; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 136, 299, Điều 414, 423, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự.
* Tuyên bố: Các bị cáo Đào Xuân L, Lê Minh Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
1.1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Đào Xuân L 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/ 01/ 2021.
1.2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Các Điều 90, 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Lê Minh Q 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tình từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.
* Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Minh Q; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Đào Xuân L.
2. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Đào Xuân L 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
3.1. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Buộc bị cáo Lê Minh Q phải nộp số tiền 7.000.000 đồng bị cáo mua bán, đổi chác tài sản trộm cắp mà có sung vào ngân sách Nhà nước.
3.2. Áp dụng 48 Bộ luật Hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 589, Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
Công nhận sự thỏa thuận: Các bị cáo Đào Xuân L, Lê Minh Q phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị hại Triệu Tài Khải số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), trong đó phần của bị cáo L là 20.000.000 đồng, phần của bị cáo Q là 20.000.000 đồng;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Triệu Tài Khải có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo L, Q chậm thanh toán còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp tài sản của bị cáo Lê Minh Q không đủ để bồi thường, thì bố mẹ bị cáo Q là ông Lê Văn Khởi, bà Hứa Thị Nghĩa phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của ông Khởi, bà Nghĩa.
4. Về án phí: Buộc các bị cáo L và Q, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và 1.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo Đào Xuân L và Lê Minh Q, người đại diện cho bị cáo Q (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) là ông Lê Văn Khởi và người bào chữa cho bị cáo Q là bà Nguyễn Thị Dung, người bị hại anh Triệu Tài Khải và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Hứa Thị Nghĩa; vắng mặt người bị hại anh Lường Văn Quyền và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thiện Dương và anh Phạm Trọng Thành.
Báo cho các bị cáo L, Q, người đại diện (đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên) là ông Khởi, người bào chữa cho bị cáo Q là bà Dung, người bị hại là anh Khải biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người bị hại là anh Quyền và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương và anh Thành biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Bị cáo + NĐD + NBC; BH; NLQ; - UBND: Xã Tân Cương, TP. Thái Nguyên; xã Phú Thượng, huyện võ Nhai; (kèm TB Kq XX); - THA h.sự, d.sự ; | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dƣơng Văn Phong |