- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Văn N phạm tội Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HS-ST Ngày: 31 - 3 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Nam
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Thu.
Ông Trần Xuân Văn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2021/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Phùng Văn N, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1991 tại Quảng Bình. Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Không tôn giáo; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phùng Văn C, sinh năm: 1946 và bà: Đoàn Thị T, sinh năm: 1953; Ông bà đều làm ruộng và trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Anh chị em ruột: Có 04 người, N là con út trong gia đình. Có vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; Quá trình bản thân: Ngày 01/8/2015 bị Công an thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính 1.000.000đ về hành vi Chiếm đoạt tài sản, đã thi hành. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/11/2020 đến ngày 08/02/2021 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ngày 08/02/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh, sau đó thay thế biện
1
pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Mai Thị L, sinh ngày 11/02/1997; địa chỉ: thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị L, sinh ngày 07/9/1990, địa chỉ: thôn H, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Phú C, sinh ngày 14/3/1992; địa chỉ: Tổ dân phố X, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 11/2020 Phùng Văn N sử dụng tài khoản Facebook “Hoàng Anh Home Credit” kết bạn nói chuyện với tài khoản Facebook “Luyen Mai” của chị Mai Thị L. Biết được chị L đang cần tìm việc làm N nói dối có người bạn cần tìm người giúp việc. Sau đó, N sử dụng tài khoản Zalo “Dũng HSBC” nhắn tin cho chị L vào tài khoản Zalo “Mèo” yêu cầu chị L chụp ảnh khỏa thân và quay video “tự sướng” gửi cho N thì sẽ được nhận tiền vào tài khoản. Chị L đã thực hiện theo yêu cầu của N.
Sáng ngày 22/11/2020 tại quán net “ZinZin” thuộc TDP Y, phường N, thành phố Đ. Nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, N sử dụng tài khoản Zalo “Nguyễn Phạm Hoàng Anh” gửi các hình ảnh, vi deo khỏa thân của chị L mà chị L đã gửi cho N vào Zalo “Mèo” để yêu cầu chị L mua cho N điện thoại Iphone 11. Nếu không N sẽ đăng ảnh, video lên mạng xã hội. Đến khoảng 7h ngày 23/11/2020 N đổi tên Zalo “Nguyễn Phạm Hoàng Anh” thành Zalo “Hacker mũ đen” tiếp tục nhắn tin yêu cầu chị L đưa điện thoại. Do sợ ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình, chị L đồng ý đưa cho N 10.000.000đ và yêu cầu N xóa các hình ảnh, video khỏa thân. N hẹn gặp chi L tại đường tránh Đồng Hới để nhận tiền. Chị L đến trình báo sự việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới. Trong lúc N điều khiển xe mô tô hiệu Honda Arblade, BKS 73G1-286.71 (xe mang tên vợ là Nguyễn Thị L) trên đường đến điểm hẹn để nhận tiền thì N bị Cơ quan điều tra triệu tập đến làm việc.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ và trả lại cho chị Mai Thị L số tiền 10.000.000đ; Thu giữ đưa vào hồ sơ vụ án 01USB hiệu Toshiba bên trong lưu giữ hình ảnh Phùng Văn N trích xuất tại quán net “ZinZin” vào ngày 23/11/2020 và 01 USB hiệu Tranco, màu ghi, dung lượng 16GB lưu giữ hình ảnh, video trích xuất từ điện thoại của N; Thu giữ và trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda Arblade, BKS 73G1-286.71 cho chị Nguyễn Thị L. Thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s của Phùng Văn N.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSĐH-KT ngày 08 tháng 02 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Phùng Văn N ra trước Tòa án
2
nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo Phùng Văn N đã thực hiện. Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Văn N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015: xử phạt Phùng Văn N từ 12 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s của Phùng Văn N; Tịch thu lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01USB hiệu Toshiba bên trong lưu giữ hình ảnh Phùng Văn N trích xuất tại quán net “ZinZin” vào ngày 23/11/2020 và 01 USB hiệu Tranco, màu ghi, dung lượng 16GB lưu giữ hình ảnh, video trích xuất từ điện thoại của N.
Về án phí: Bị cáo Phùng Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của bị cáo Phùng Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi cưỡng đoạt tài sản đúng như Bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương để có điều kiện giúp đở gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đồng Hới, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3
Bị cáo Phùng Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Trong ngày 22 và 23/11/2020 Phùng Văn N đã sử dụng tài khoản Zalo của mình là “Nguyễn Phạm Hoàng Anh” và “Hacker mũ đen” gửi hình ảnh, video khỏa thân của chị Luyên vào tài khoản Zalo “Mèo” của chị L để đe dọa, uy hiếp tinh thần chị L nhằm chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng. Nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Phùng Văn N phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố và kết luận của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Phùng Văn N là người trưởng thành, có nhận thức lẽ ra phải biết tôn trọng tài sản của người khác, nhưng chỉ vì hám lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chị Mai Thị L, mà còn gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến đời sống, công việc của người bị hại, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân do đó cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Phùng Văn N không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa Phùng Văn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Bố bị cáo là người có công là bệnh binh 61% và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rỏ ràng nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 giao bị cáo về chính quyền địa phương phối hợp với gia đình giám sát giáo dục bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đồng Hới đã thu giữ và trả lại cho chị Mai Thị L số tiền 10.000.000đ; Thu giữ đưa vào hồ sơ vụ án 01USB hiệu Toshiba bên trong lưu giữ hình ảnh Phùng Văn N trích xuất tại quán net “ZinZin” vào ngày 23/11/2020 và 01 USB hiệu Tranco, màu ghi, dung lượng 16GB lưu giữ hình ảnh, video trích xuất từ điện thoại của N; Thu giữ và trả
4
lại 01 xe mô tô hiệu Honda Arblade, BKS 73G1-286.71 cho chị Nguyễn Thị L. Thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s của Phùng Văn N.
Chị L, chị L đã nhận đủ tiền và tài sản của mình và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s của Phùng Văn N là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01USB hiệu Toshiba bên trong lưu giữ hình ảnh Phùng Văn N trích xuất tại quán net “ZinZin” vào ngày 23/11/2020 và 01 USB hiệu Tranco, màu ghi, dung lượng 16GB lưu giữ tin nhắn, hình ảnh, video trích xuất từ điện thoại của Nhật là tài liệu chứng cứ phạm tội nên cần lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại đúng, đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm về phần bồi thường dân sự, nên HĐXX không xem xét.
Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: bị cáo Phùng Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Văn N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt Phùng Văn N 15 ( Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/3/2021).
Giao bị cáo Phùng Văn N cho Ủy ban nhân dân thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định hoặc buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 :
5
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5s của Phùng Văn N.
- Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01USB hiệu Toshiba bên trong lưu giữ hình ảnh Phùng Văn N trích xuất tại quán net “ZinZin” vào ngày 23/11/2020 và 01 USB hiệu Tranco, màu ghi, dung lượng 16GB lưu giữ tin nhắn, hình ảnh, video trích xuất từ điện thoại của Phùng Văn N.
(Vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2021, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới).
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Buộc bị cáo Phùng Văn N phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (31/3/2021) để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị hại; người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hạn trong 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Đã giải thích chế định của án treo)
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - VKSND thành phố Đồng Hới; - Công an thành phố Đồng Hới; - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới; - Người tham gia tố tụng; - THA phạt tù; Lưu hồ sơ; Lưu TA 6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Phúc Nam |