vanban.org

Bản án 23/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Kiên Giang Tuyên án 14/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo CK và TH phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo CK9 (chín) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 10/12/2020). Xử phạt bị cáo TH 06 (sáu) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 10/12/2020). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo CK và TH phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KIÊN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:33/2021/HS-ST
Ngày: 14-4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Danh Hoàng Duyên

Ông Đỗ Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 03 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. CK, sinh ngày 09/7/1970 tại Campuchia. Nơi cư trú: Ấp ThCâu, xã Xây Sộc Tây, huyện Kom Pong Trach, tỉnh Kampot, Vương quốc Campuchia; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 08/12, dân tộc: Khmer; giới tính: Nam, tôn giáo: Phật giáo, quốc tịch: Campuchia; con ông Chea Chrát và bà Sâng Chinh; vợ Srâu Srai, con 05 người, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/12/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. TH, sinh ngày 12/11/1995 tại Campuchia. Nơi cư trú: Ấp ThCâu, xã Xây Sộc Tây, huyện Kom Pong Trach, tỉnh Kampot, Vương quốc Campuchia; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 5/12, dân tộc: Khmer; giới tính: Nam, tôn giáo: Phật giáo, quốc tịch: Campuchia; con ông Ton Chưl và bà On Mum; anh chị em ruột 03 người, lớn nhất 36 tuổi, nhỏ nhất 31 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/12/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: Ông Danh Mát CR

Nơi công tác: Sở Ngoại vụ tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 25/11/2020, CK điều khiển vỏ Compsit dài 07m có gắn máy nổ hiệu Hinota đã qua sử dụng chở TH (CK thuê THvới giá 150.000đ) đến ấp ThCâu, xã Xây Sộc Tây, huyện Kom Pong Trach, tỉnh Kampot, Vương quốc Campuchia gặp một người đàn ông tên Kon (không xác định được lai lịch, đã hẹn với CK từ trước qua điên thoại) vận chuyển thuê 04 bao tải chứa 2.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero với giá 600.000đ. Sau khi thỏa thuận xong, CK kêu TH vát 04 bao tải đựng thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero để lên vỏ máy, CK trực tiếp điều khiển vỏ máy chở thuốc lá cùng TH vận chuyển từ Vương quốc Campuchia về thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang của Việt Nam. Khi CK và TH điều khiển vỏ máy đến khu vực vùng biển có tọa độ 10024’12’’N-104026’54’’E thuộc khu phố Xà Xía, phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (cách đất liền địa phận Hà Tiên khoảng 200m) thì bị tổ tuần tra Đội đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm phối hợp với Hải đội 2 Bộ đội biên phòng tỉnh Kiên Giang, Đồn biên phòng cửa khẩu Quốc tế Hà Tiên kiểm tra phát hiện bắt quả tang trên vỏ máy có 04 bao tải chứa 2.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, thu giữ toàn bộ tang vật.

* Vật chứng trong vụ án thu giữ được gồm:

- 2.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero;

- 01 (một) vỏ Compsit dài 07m, chiều rộng 0,7m, đã qua sử dụng;

- 01 (một) máy nổ hiệu Hinota đã qua sử dụng;

- 02 (hai) điện thoại hiệu Oppo, số imei: 869054031580217-869054031580209 và số imei: 864854042842273 - 864854042842265, đã qua sử dụng, bị hư hỏng.

- 01 (một) điện thoại hiệu Camfone, số imei: 354292101539190-354292101539208, đã qua sử dụng.

*Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKSTKG - P2 ngày 05/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang đã truy tố các bị cáo CK và TH về tội “Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và xác định vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2; Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo CK từ 12 đến 15 tháng tù.

Xử phạt bị cáo TH từ 9 đến 12 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp, đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy:

- 2.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero;

- 02 (hai) điện thoại hiệu Oppo, số imei: 869054031580217 – 869054031580209 và số imei: 864854042842273 - 864854042842265, đã qua sử dụng, bị hư hỏng.

- 01 (một) điện thoại hiệu Camfone, số imei: 354292101539190 - 354292101539208, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước:

- 01 (một) vỏ Compsit dài 07m, chiều rộng 0,7m, đã qua sử dụng;

- 01 (một) máy nổ hiệu Hinota đã qua sử dụng;

* Các bị cáo CKvà TH thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu. Không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi của các bị cáo, tại phiên tòa các bị cáo CK và TH thừa nhận đã thực hiện hành vi như bản Cáo trạng nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: ngày 25/11/2020, CK điều khiển vỏ máy Compsit chở TH vận chuyển thuê cho một người đàn ông tên Kon 04 bao tải chứa 2.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero từ Vương quốc Campuchia về thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang của Việt Nam, khi đến khu vực vùng biển có tọa độ 10024’12’’N-104026’54’’E thuộc khu phố Xà Xía, phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang của Việt Nam thì bị tổ tuần tra Đội đặc nhiệm phòng chống ma túy và tội phạm phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Như vậy, hành vi của các bị cáo thực hiện đã cấu thành tội vận chuyển hàng cấm quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý một số hàng hóa đặc biệt. Các bị cáo có năng lực nhận thức được việc vận chuyển thuốc lá nhập lậu là hành vi mà pháp luật Việt Nam nghiêm cấm. Thế nhưng vì hám lợi các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý vận chuyển 2.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, trong đó bị cáo CK giữ vai trò chính, là người trực tiếp nhận vận chuyển thuê hàng cấm cho người khác và thuê bị cáo THgiúp sức cùng thực hiện.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, thể hiện thật sự ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về biện pháp tư pháp:

- Đối với 2.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero là hàng cấm lưu hành và 03 điện thoại các bị cáo dùng vào việc phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với vỏ Compsit và máy nổ hiệu Hinota các bị cáo dùng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, có cơ sở xác định là của bị cáo CK Vì sau khi bị bắt giữ vài ngày (cụ thể là ngày 30/11/2020) khi điều tra viên Công an thành phố hà Tiên lấy lời khai, bị cáo CK khai nhận vỏ máy là của bị cáo, trong đó vỏ mua ở Giang Thành, Việt Nam khoảng 3 - 4 năm trước giá 5.000.000đ; máy mua ở Lục Sơn, Campuchia giá 200.000 Real (bút lục 73 + 74) và ngày 16/12/2020 khi điều tra viên Công an tỉnh Kiên Giang lấy lời khai thì bị cáo CK cũng khai nhận vỏ máy là của bị cáo (bút lục 53 + 54). Sau này khi chuẩn bị kết thúc điều tra và ra quyết định truy tố thì bị cáo CK lại cho rằng vỏ máy là của cha mẹ vợ bị cáo cho mượn (bút lục 59 +147) nhưng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh vỏ máy là của cha mẹ vợ bị cáo, đồng thời cho đến nay cha mẹ vợ bị cáo CK cũng không có ý kiến yêu cầu gì đối với vỏ máy này. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát cũng có ý kiến xác định qua diễn biến thực tế tại phiên tòa không có chứng cứ chứng minh vỏ máy là của cha mẹ vợ bị cáo CK, trong khi bị cáo C K khai nhận do chính bị cáo mua của người khác không làm giấy tờ gì và các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước. Do đó, áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vỏ máy mà các bị cáo dung vào việc phạm tội nêu trên.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, mỗi bị cáo CK và TH phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Từ đó, trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định một mức hình phạt tương xứng với vai trò, tính chất phạm tội của từng bị cáo trong vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự từng bị cáo được hưởng. Đồng thời quyết định về xử lý vật chứng, về án phí như đã phân tích trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo CK và TH phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo CK9 (chín) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 10/12/2020).

Xử phạt bị cáo TH 06 (sáu) tháng tù, thời điểm chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 10/12/2020).

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) vỏ Compsit dài 07m, chiều rộng 0,7m, đã qua sử dụng và 01 (một) máy nổ hiệu Hinota đã qua sử dụng;

- Tịch thu tiêu hủy:

+2.960 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero;

+02 (hai) điện thoại hiệu Oppo, số imei: 869054031580217-869054031580209 và số imei: 864854042842273 - 864854042842265, đã qua sử dụng, bị hư hỏng.

+01 (một) điện thoại hiệu Camfone, số imei: 354292101539190 - 354292101539208, đã qua sử dụng.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ-VKSKG-P2 ngày 05/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc mỗi bị cáo CK và TH phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Các bị cáo CK và TH có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/4/2021).

Cỡ chữ