vanban.org

Bản án 23/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 15/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm t i “Giết ngư i”. Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 16 (mư i sáu) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 09/3/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh H phạm tội "Giết người". - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2021/HS-ST
Ngày 15-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Quang Ẩn;

Ông Nguyễn Văn Cương;

Bà Lê Thị Mỹ.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Tuyên – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 170/2020/HS-ST ngày 02/12/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:

Lê Thanh H, sinh năm 1998 tại thành phố C n Thơ. khẩu thư ng tr : ấp Q, xã T, huyện V, thành phố C n Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình đ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh H1 và bà Tr n Thị Kim P; tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo chưa có vợ; bị cáo có m t ngư i con chung sinh năm 2017 với bị hại Đặng Kim T1 (đã chết); ngày 09/3/2020 thực hiện hành vi phạm t i, bị cáo ra tự th và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Thanh H: Bà Nguyễn Thị T2 là Luật sư Công ty Luật TN B – thu c Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương. Địa chỉ: t ng 19, tòa nhà B1, số 230, Đại l Bình Dương, phư ng P1, thành phố T3, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị hại: Đặng Kim T1 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Đặng Kim T1: Bà Dương Thị Ngọc A, sinh năm 1968, địa chỉ: khóm 1, Phư ng 1, thị xã V1, tỉnh Sóc Trăng, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Thanh H1 và bà Tr n Thị Kim P, địa chỉ: ấp Q, xã T, huyện V, thành phố C n Thơ, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Kim T1, sinh ngày 19/6/2000, chung sống như vợ chồng với Lê Thanh H từ cuối năm 2016 nhưng chưa đăng ký kết hôn và có 01 (m t) con chung là cháu Đặng Lê Tuyết 2, sinh ngày 29/6/2017. H và T1 thuê phòng trọ số 02, nhà trọ P1 tại ấp 3, xã H2, thị xã T2, tỉnh Bình Dương và đi làm thuê. Quá trình chung sống, H và T1 thư ng xuyên xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau do H ghen tuông, nghi ng T1 có quan hệ tình cảm với ngư i đàn ông khác.

Khoảng 06 gi ngày 09/3/2020, trên đư ng chở T1 đến công ty đi làm thì giữa H và T1 xảy ra mâu thuẫn, cự cãi nhau nên T1 kêu H chở T1 quay về phòng trọ để nói chuyện. Về đến phòng trọ, H và T1 bàn với nhau việc ai là ngư i nuôi con khi chia tay nhưng vẫn không giải quyết được nên H và T1 không đi làm mà ở lại phòng trọ. L c này, H thấy T1 lấy điện thoại di đ ng nhãn hiệu NONY S9 màu đỏ của T1 nhắn tin nên H liền đến giật điện thoại xem tin nhắn nhưng không xem được. Sau đó, T1 đứng dậy đến ngồi tựa lưng vào vách tư ng phòng vệ sinh của phòng trọ thì H cũng đi theo và ngồi kế bên T1. Khi đó, giữa H và T1 tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, cự cãi với nhau nên H dùng tay xô T1 ngã ở tư thế nằm nghiêng trên nền phòng trọ. Tiếp đó, H leo lên ngồi đè lên ngư i T1, dùng hai chân kẹp chặt ngư i T1. H dùng tay phải nắm giữ cổ áo phía sau của T1 và dùng tay trái bóp cổ T1 khoảng 02 ph t thì H buông tay ra. Do vô cớ bị H bóp cổ nên T1 bực tức, lên tiếng thách thức H “mày có ngon mày bóp chết tao luôn đi”. Khi bị T1 thách thức, H tức giận, không kiềm chế được liền dùng hai tay bóp mạnh cổ T1, T1 giẫy dụa nhưng không được do bị H ngồi đè phía trên. H bóp cổ T1 khoảng 05 – 10 ph t thì thấy T1 không còn cử đ ng nên lấy tay ra khỏi cổ của T1 và lật T1 nằm ngửa trên nền phòng trọ, biết T1 đã chết nên H đến công an xã H2, thị xã T2, tỉnh Bình Dương tự th và khai nhận hành vi phạm t i như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, ngày 09/3/2020 Công an xã H2, thị xã T2, tỉnh Bình Dương đã tạm giữ: 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu NONY S9 màu đỏ và 01 (m t) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đặng Kim T1 do Lê Thanh H giao n p.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 201 ngày 26/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

Dấu hiệu chính qua giám định:

- Mặt tím tái.

- Quanh cổ có nhiều vết hằn tụ máu, xước da không rõ hình dạng.

- Trên ngư i nạn nhân có nhiều vết b m tụ máu có nhiều đ tuổi.

- Tụ máu dưới da và trong cơ vùng cổ.

- Xung huyết nặng vùng hạ h u, lòng khí quản, thực quản.

- Xung huyết đa tạng.

- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học số 04.20/MB :

+ Tổ chức liên kết của tuyến nước bọt xuất huyết.

+ Mạch não (màng mềm) phù giãn r ng.

+ Phù, bong tróc phế quản.

Nguyên nhân chết: Ngạt do tắc đư ng thở trong do bị đè từ bên ngoài (bóp cổ).

Đối với 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu NONY S9 màu đỏ và 01 (m t) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đặng Kim T1 do Lê Thanh H giao n p. Quá trình điều tra, xác định: Đây là tư vật của Đặng Kim T1, không liên quan đến vụ án. Do Đặng Kim T1 đã chết nên ngày 02/10/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã giao trả 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu NONY S9 màu đỏ và 01 (m t) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đặng Kim T1 cho bà Dương Thị Ngọc A (bà A là mẹ ru t và là đại diện hợp pháp của Đặng Kim T1).

Đối với hành vi giao cấu với Đặng Kim T1 của Lê Thanh H. Quá trình điều tra, xác định: Đặng Kim T1 có em sinh đôi là Đặng Tình N, cùng sinh vào ngày 19/6/2000 tại Trung tâm Y tế huyện (nay là thị xã) V1, tỉnh Sóc Trăng và đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân thị trấn V1, huyện (nay là thị xã) V1, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 26/8/2002. Qua làm việc, bà Dương Thị Ngọc A (bà A là mẹ ru t của Đặng Kim T1 và Đặng Tình N) xác định: Do sinh đôi nên bà A nhớ ngày sinh của Đặng Kim T1 và Đặng Tình N là ngày 19/6/2000. Giấy chứng sinh của Đặng Kim T1 và Đặng Tình N bà đã làm thất lạc nên không thu hồi được. Qua xác minh tại Trung tâm Y tế thị xã V1, tỉnh Sóc Trăng và Ủy ban nhân dân Phư ng 1, thị xã V1, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 18/8/2020 không thu thập được Giấy chứng sinh của Đặng Kim T1 và Đặng Tình N.

Lê Thanh H và Đặng Kim T1 chung sống với nhau như vợ chồng từ cuối năm 2016 nhưng chưa đăng ký kết hôn và có 01 (m t) con chung là cháu Đặng Lê Tuyết 2, sinh ngày 29/6/2017. Do vậy, không đủ căn cứ chứng minh Lê Thanh H phạm t i giao cấu với trẻ em, quy định tại Điều 115 của B luật ình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương không khởi tố, xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Thanh H1 và bà Tr n Thị Kim P là cha, mẹ ru t của Lê Thanh H đã thay Lê Thanh H bồi thư ng 75.000.000 đồng chi phí mai táng cho ngư i đại diện hợp pháp của bị hại Đặng Kim T1 là bà Dương Thị Ngọc A và không yêu c u Lê Thanh H phải trả lại. iện tại, bà Dương Thị Ngọc A không yêu c u bị cáo tiếp tục bồi thư ng nên không xem xét, giải quyết.

Tại Cáo trạng số 121/CT-VKS.P2 ngày 30/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thanh H về t i “Giết ngư i” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của B luật ình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Bị cáo Lê Thanh H khai nhận toàn b hành vi phạm t i như n i dung Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày l i luận t i trong đó có n i dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Thanh H ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về t i “Giết ngư i” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 B luật ình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đánh giá tính chất, mức đ , hậu quả hành vi phạm t i của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị i đồng xét xử áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của B luật ình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Thanh H với mức án là từ 16 năm đến 18 năm tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: đề nghị i đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngư i bào chữa chỉ định cho bị cáo Lê Thanh H trình bày: thống nhất với n i dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: sau khi thực hiện hành vi phạm t i bị cáo đã đến cơ quan Công an tự thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác đ ng gia đình khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Vì vậy, đề nghị i đồng xét xử sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương.

Bị cáo Lê Thanh H không có ý kiến tranh luận và thống nhất với n i dung bào chữa của ngư i bào chữa.

Ngư i đại diện hợp pháp của bị hại Đặng Kim T1 là bà Dương Thị Ngọc A trình bày: Bà A có nhận 75.000.000 đồng của ông Lê Thanh H1 và bà Tr n Thị Kim P là cha, mẹ ru t của bị cáo Lê Thanh H bồi thư ng chi phí mai táng cho gia đình bị hại thay cho bị cáo. Bà A không yêu c u bị cáo H phải bồi thư ng thiệt hại gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị H i đồng xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.

Ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh H1 và bà Tr n Thị Kim P trình bày: Đối với 75.000.000 đồng ông, bà đã bỏ ra bồi thư ng chi phí mai táng cho gia đình bị hại thay cho bị cáo H, ông H1, bà P không yêu c u bị cáo H phải trả lại số tiền trên.

Bị cáo nói l i sau cùng: bị cáo xin lỗi gia đình bị hại. Bị cáo mong i đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình, làm lại cu c đ i.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, i đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, ngư i đại diện hợp pháp cho bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thanh H khai nhận hành vi phạm t i đ ng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. L i nhận t i của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, i đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 09/3/2020, tại phòng trọ số 02, nhà trọ P1, ấp 3, xã H2, thị xã T2, tỉnh Bình Dương, Lê Thanh H và Đặng Kim T1 phát sinh mâu thuẫn, cự cãi nhau, H dùng tay xô T1 ngã ở tư thế nằm nghiêng trên nền phòng trọ. Tiếp đó, H ngồi đè lên ngư i T1, dùng hai chân kẹp chặt ngư i T1. H dùng tay phải nắm giữ cổ áo phía sau của T1 và dùng tay trái bóp cổ T1 khoảng 02 ph t thì H buông tay ra. T1 lên tiếng thách thức H “mày có ngon mày bóp chết tao luôn đi”. Khi bị T1 thách thức, H tức giận, dùng hai tay bóp mạnh cổ T1 khoảng 05 – 10 ph t thì thấy T1 không còn cử đ ng nên H lấy tay ra khỏi cổ của T1 và lật T1 nằm ngửa trên nền phòng trọ. ậu quả làm Đặng Kim T1 ngạt, tắc đư ng thở trong dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo Lê Thanh H có đủ yếu tố cấu thành t i “Giết ngư i” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thanh H về t i danh và điều luật như trên là có căn cứ, đ ng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Lê Thanh H là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã h i. Về nhận thức, bị cáo biết được hành vi dùng hai tay bóp mạnh cổ bị hại khoảng 05 – 10 phút là hành vi trái pháp luật, có khả năng tước đoạt mạng sống của bị hại nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra, thể hiện ý thức xem thư ng pháp luật của bị cáo. ành vi phạm t i của bị cáo H đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của bị hại T1 được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang cho ngư i dân sinh sống tại khu vực, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại. Do vậy, c n phải xử phạt bị cáo H mức hình phạt nghiêm khắc nhằm có tác dụng trừng trị, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa, răn đe chung cho xã h i. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt c n xem xét đ y đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: sau khi phạm t i, bị cáo ra tự th ; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác đ ng gia đình khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, đại diện bị hại đề nghị i đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của B luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về ph n hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên i đồng xét xử chấp nhận.

Ý kiến của ngư i bào chữa cho bị cáo Lê Thanh H về việc giảm hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp nên i đồng xét xử không chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Thanh H1 và bà Tr n Thị Kim P là cha, mẹ ru t của bị cáo đã bồi thư ng cho gia đình bị hại chi phí mai táng 75.000.000 đồng. Bà Dương Thị Ngọc A là mẹ ru t của bị hại Đặng Kim T1 không yêu c u bị cáo H phải bồi thư ng thiệt hại gì thêm nên i đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu NONY S9 màu đỏ và 01 (m t) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đặng Kim T1 là tài sản của Đặng Kim T1, không liên quan đến vụ án. Do Đặng Kim T1 đã chết nên ngày 02/10/2020, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bình Dương đã giao trả 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu NONY S9 màu đỏ và 01 (m t) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Đặng Kim T1 cho ngư i đại diện hợp pháp bà Dương Thị Ngọc A là đ ng quy định pháp luật nên i đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: Bị cáo Lê Thanh H phải n p 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 329, 331, 333 của B luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm t i “Giết ngư i”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của B luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 16 (mư i sáu) năm tù. Th i hạn tù tính từ ngày 09/3/2020.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của B luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lê Thanh H phải n p 200.000 đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ