- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án bị cáo Đỗ Văn Lập phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 23/2021/HS-ST Ngày: 25/5/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Mạnh Quang Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Kế 2. Bà Vũ Thị Toan
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Đỗ Văn L, sinh năm 1986 tại xã AV, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Thôn NL, xã AV, huyện T, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Đỗ Văn Th và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Vì Thị L (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 19/6/2013 bị Công an huyện Tiên Lữ xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc mức phạt 1.000.000 đồng. Ngày 09/2/2018 bị UBND huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ, mức phạt 5.000.000 đồng. Bị tạm giữ ngày 11/01/2021, bị tạm giam ngày 17/01/2021 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên“có mặt tại phiên tòa”.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Văn D, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn NT, xã AV, huyện T, tỉnh Hưng Yên“vắng mặt”
- Anh Lê Xuân C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Thôn D, xã DC, huyện T, tỉnh Hưng Yên“vắng mặt”
Người làm chứng:
- Anh Phương Văn H, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn A, xã LP, thành phố HY, tỉnh Hưng Yên“vắng mặt”
- Chị Bùi Thị B, sinh năm 1977; Địa chỉ: Thôn NT, xã AV, huyện T, tỉnh Hưng Yên“vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 10/01/2021 tại khu nhà trọ của chị Bùi Thị B ở Thôn NT xã AV, Công an huyện Tiên Lữ phối hợp với Công an xã AV kiểm tra phát hiện Trần Văn D và Lê Xuân C đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ tại nền phòng trọ 01 chai nhựa gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống nhựa màu hồng bên trong đầu ống thủy tinh có chất tinh thể màu trắng dạng cục, bột được niêm phong trong 01 hộp bằng bìa carton ký hiệu M1. D và C khai nhận chất tinh thể màu trắng bên trong đầu ống thủy tinh là ma túy đá mua của Đỗ Văn L trưa ngày 10/01/2021 sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, cơ quan Công an còn quản lý 01 điện thoại di động Nokia 105 của Lê Xuân C và 01 điện thoại di động Iphone 7 của Trần Văn D.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lữ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đỗ Văn L ở Thôn NL, xã AV, huyện T, nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Quá trình làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra tại Ủy ban nhân dân xã AV, Đỗ Văn L khai nhận trưa ngày 10/01/2021 D và C gọi điện hỏi mua ma túy, sau đó đến cổng nhà L tại thôn NL xã AV, L đã bán cho D 01 túi nilon bên trong là ma túy đá với giá 300.000 đồng. L tự nguyện giao nộp số tiền 300.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 6Plus.
Tại Bản kết luận giám định số 56/MT-PC09 ngày 14/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu M1, có khối C 0,031g (không phẩy không ba một gam) là ma túy, loại Methamphetamine.
Tại cơ quan điều tra Đỗ Văn L khai nhận: Trưa ngày 10/01/2021, L đang ở nhà thì nhận được điện thoại của Trần Văn D hỏi “anh có hàng không”, L hiểu là D hỏi mua ma túy nhưng do không tin tưởng nên trả lời không có. Một lúc sau thì Lê Xuân C gọi điện đến cho L hỏi “Em có hàng không, nếu có thì bán cho thằng D, nó đang cần”, do quen biết với C từ trước nên L trả lời “có, anh bảo nó khoảng 15 phút nữa đến nhà”. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, L ở nhà thì thấy C và D đến trước cổng, D đưa cho L 300.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng và 1 tờ mệnh giá 200.000 đồng) qua cổng, L cầm tiền đưa cho D 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá. Khi bán ma túy xong, C hỏi xin ống thủy tinh và ống nhựa thì L lấy đưa cho C 01 ống thủy tinh và ống hút nhựa màu hồng, sau đó C và D đi về còn L vào trong nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, L đang ở nhà thì Công an huyện Tiên Lữ triệu tập đến Ủy ban nhân dân xã AV làm việc, quá trình làm việc L khai nhận hành vi bán ma túy đá cho D và giao nộp vật chứng liên quan. L khai số ma túy đá bán cho D mua của Phương Văn H, sinh năm 1992 ở Thôn A, xã LP, thành phố HY với giá 250.000 đồng bán lại kiếm lời.
Ngày 14/01/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lữ tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phương Văn H nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Quá trình điều tra xác định Trần Văn D, Lê Xuân C không có tiền án, tiền sự về các tội phạm ma túy. Hành vi tàng trữ 0,031g Methamphetamine của D và C chưa đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lữ đã ra Quyết định xử phạt hành chính.
Quá trình điều tra xác định Trần Văn D, Lê Xuân C tự ý đến nhà trọ của chị Bùi Thị B để sử dụng ma túy, chị B không biết D, C sử dụng ma túy tại nhà trọ của mình nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Phương Văn H, quá trình điều tra đối chất không thừa nhận bán ma túy cho L nên không có căn cứ xác định H mua bán ma túy.
Vật chứng của vụ án: 01 hộp cát tông niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu vàng đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen đã qua sử dụng; 01 giấy nộp tiền vào tài khoản tạm gửi của Công an huyện Tiên Lữ tại Kho bạc Nhà nước huyện Tiên Lữ, số tiền là 300.000 đồng; 01 phong bì bên trong chứa 01 USB nhãn hiệu Kingston (chuyển cùng hồ sơ).
Quá trình điều tra Đỗ Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 22/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ truy tố bị cáo Đỗ Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử thẩm tra công khai tại phiên tòa; lời khai của bị cáo, lời khai của người liên quan, người làm chứng đã có đủ căn cứ xác định trưa ngày 10/01/2021 bị cáo đã bán 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Trần Văn D với giá 300.000 đồng nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, đại diện Viện kiểm sát huyện Tiên Lữ giữ nguyên cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn được tính từ ngày tạm giữ 11/01/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 46; Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị HĐXX tịch thu cho tiêu hủy 01 hộp cát tông niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định; Tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu vàng của Đỗ Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen của Trần Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen của Lê Xuân C; Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 300.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
Bị cáo Đỗ Văn L tự bào chữa: Nhất trí với cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ xác định bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm một phần hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Lữ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà,bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản khám xét ngày 10/01/2021; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 10/01/2021; Kết luận giám định số 56/MT-PC09 ngày 14/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hưng Yên; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 10/01/2021, tại Thôn NL, xã AV, huyện T, tỉnh Hưng Yên, Đỗ Văn L đã có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Trần Văn D với giá 300.000 đồng nhằm mục đích kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ truy tố bị cáotheo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, làm gia tăng tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy; nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc và tàng trữ trái phép pháo nổ.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo với thái độ ăn năn, hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích và nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, đáp ứng nhu cầu phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tại phiên tòa là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: 01 hộp cát tông niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong có 01 chai nhựa gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa là công cụ Trần Văn D, Lê Xuân C sử dụng ma túy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu vàng đã qua sử dụng của bị cáo Đỗ Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen đã qua sử dụng của Trần Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen đã qua sử dụng của Lê Xuân C đã sử dụng liên lạc mua ma túy, là phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu, hóa giá sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 300.000 đồng thu được từ việc bị cáo bán ma túy trái phép nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với hành vi tàng trữ 0,031g ma túy, loại Methamphetamine của D và C chưa đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tiên Lữ đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Văn D, Lê Xuân C về hành vi tàng trữ chất ma túy trái phép là đúng pháp luật.
Đối với chị Bùi Thị B không biết D, C sử dụng ma túy tại nhà trọ của mình nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.
Đối với Phương Văn H quá trình điều tra không thừa nhận bán ma túy cho L, không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh H mua bán ma túy nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là đúng quy định.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
. Luận tội và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo và các vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên bố: bị cáo Đỗ Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Đỗ Văn L 03 năm tù (ba năm tù), thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ 11/01/2021. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 46; Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6Plus, màu vàng đã qua sử dụng của bị cáo Đỗ Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu đen đã qua sử dụng của Trần Văn D; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen đã qua sử dụng của Lê Xuân C. Tịch thu số tiền 300.000 đồng bị cáo phạm tội mà có sung vào ngân sách Nhà nước. Tịch thu cho tiêu hủy 01 hộp cát tông niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định bên trong có 01 chai nhựa gắn 01 ống thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa. (Tình trạng, số C vật chứng theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/01/2021; phiếu nhập kho ngày 28/4/2021 giữa cơ quan Công an và Kho bạc, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ).
Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - VKSND huyện Tiên Lữ; - VKSND tỉnh Hưng Yên - Chi cục THADS huyện Tiên Lữ; - CA huyện Tiên Lữ; - CA Trại tạm giam - Phòng KTNV Tòa án tỉnh; - Lưu: Hồ sơ vụ án, THA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đoàn Mạnh Quang |