- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bá L phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HS-ST Ngày: 01/4/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG -TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Thúy
Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh
- T ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Hương - Là T ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2020/HSST ngày 29/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2020/QĐXXST - HS ngày 29/11/2020 và các Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:
Lê Bá L - sinh năm: 1988. Nơi ĐKNKTT: xã N, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Bá Toàn (đã chết) và bà Chu Thị T; Chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:
- Ngày 16/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội:“ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/10/2010, chấp hành xong án phí HSST và dân sự ngày 19/9/2017.
- Ngày 28/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 42 tháng tù về tội:“Công nhiên chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2013, chấp hành xong án phí HSST ngày 03/6/2011.
- Ngày 27/01/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/2017, chấp hành xong án phí HSST ngày 21/8/2015.
- Ngày 20/5/2020 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa khởi tố về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 15/10/2020 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa khởi tố về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Ngày 29/10/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/6/2020.
Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác. Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Anh Đào Văn T - sinh năm 1981 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: xã T, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
- Anh Đào Văn B - sinh năm 1989 (vắng mặt). Địa chỉ: xã T, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Hồ Tấn X - sinh năm 1994 (vắng mặt) Địa chỉ: xã T , huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 4 năm 2020 Lê Bá L từ Hà Nội về Thanh Hóa, trên xe khách L quen và nói chuyện với anh Đào Văn B - sinh năm 1989 ở xã T, huyện Quảng Xương (Qua nói chuyện L giới thiệu với anh B tên là L người ở Hoằng Hóa). Sau đó anh B dẫn L về nhà mình chơi. Chơi được vài ngày thì L bắt xe khách đi Miền Nam. Đến ngày 18/5/2020 L về Thanh Hóa bắt xe ôm đến nhà anh B để chơi. Đến khoảng 19 giờ ngày 19/5/2020 anh B, anh Đào Văn T (anh trai B) - sinh năm 1981, anh Hồ Tấn X - sinh năm 1994 đều ở thôn 7, xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương và L đi ăn tối. Sau khi đi ăn tối về, tất cả rủ nhau ra lều cò ở bờ sông cách nhà anh B khoảng 200m để hóng mát. Vì gần nên anh T dựng xe máy ở nhà anh B rồi đi bộ cùng mọi người ra lều cò. Lúc này L quan sát thấy chiếc xe mô tô BKS 36B5-860.25 của anh T dựng ở sân, ổ khóa vẫn đang cắm chìa khóa nên L nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe này bán lấy tiền tiêu xài. Vì vậy khi đi được khoảng 100m thì L nói dối với mọi người là “khát nước và về đi mua nước”. Sau đó L một mình quay lại nhà anh B, quan sát xung quanh không có ai nên L đi lại chiếc xe mô tô BKS 36B5-860.25 của anh T dắt xe ra nổ máy và điều khiển xe chạy theo hướng ra Quốc lộ 1A. Trên đường đi L dừng xe, mở cốp phát hiện trong cốp có 2.500.000đ và giấy tờ của chiếc xe. L lấy số tiền trên cất vào túi và tiếp tục điều khiển xe mô tô đã trộm cắp được đi về huyện Hoằng Hóa. Khi đến địa phận huyện Hoằng Hóa, L đã bán chiếc xe mô tô BKS 36B5-860.25 cho một người đàn ông không quen biết lấy 7.500.000đ. Sau đó L bắt xe khách ra Hà Nội tiêu xài cá nhân hết rồi lại bắt xe khách đi vào tỉnh Bình Dương.
Sau khi sự việc xảy ra anh B có đưa ảnh của L lên mạng xã hội để nhờ cộng đồng mạng cung cấp thông tin về L thì biết tên đầy đủ của L là Lê Bá L - sinh năm 1988 ở thôn 3, xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa. Đến ngày 24/5/2020 anh Đào Văn T đã lên Công an xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương báo cáo sự việc bị trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 36B5 - 860.25 và số tiền 2.500.000đ để trong cốp xe mô tô và cung cấp thông tin về Lê Bá L. Công an xã Quảng Thái đã báo cáo, chuyển vụ việc đến Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương để giải quyết theo quy định.
Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã nhiều lần đến nhà của Lê Bá L ở xã Hoằng Ngọc, huyện Hoằng Hóa để xác minh nhưng L không có nhà. L đi đâu, làm gì chính quyền địa phương không rõ.
Ngày 11/6/2020 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Quảng Xương định giá và kết luận: Chiếc xe mô tô BKS 36B5-860.25 bị trộm cắp trị giá 11.250.000đ.
Sau khi khởi tố vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương nhận được thông tin Lê Bá L đang bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bắt tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã vào Bình Dương tiến hành ghi lời khai đối với Lê Bá L. L khai vào hồi 19 giờ ngày 19/5/2020 đã trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 36B5-860.25 của anh Đào Văn T đang dựng ở nhà anh B ở thôn 7, xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 36B5-860.25, Lê Bá L khai đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông không quen biết. Cơ quan CSĐT Công an huyện Quảng Xương đã tiến hành xác minh, truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa xác định được hiện đang ở đâu.
Đối với chiếc xe Lê Bá L trộm cắp ngày 19/5/2020 của anh Đào Văn T. Anh T yêu cầu L phải bồi thường giá trị chiếc xe và số tiền 2.500.000đ. Tổng cộng là 13.625.000đ. Hiện nay Lê Bá L chưa bồi thường.
Tạị bản cáo trạng số 66/CTr - VKSQX ngày 28/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương đã truy tố bị cáo Lê Bá L về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Quảng Xương giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo: Lê Bá L từ 21 đến 24tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 454/2020 ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 03 năm 09 tháng đến 04năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2020.
Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Đào Văn T giá trị chiếc xe trộm cắp là 11.125.000đ và số tiền 2.500.000đ. Tổng cộng buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền là 13.625.000đ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Xác định: Khoảng 19 giờ ngày 19/5/2020, Lê Bá L đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô BKS 36B5-680.45 trị giá 11.125.000đ và số tiền 2.500.000đ ở trong cốp xe của anh Đào Văn T - sinh năm 1981 ở thôn 7, xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương khi anh T dựng xe ở nhà anh Đào Văn B - sinh năm 1989. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 13.625.000đ (Mười ba triệu sáu trăm hai lăm nghìn đồng). Như vậy đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội:“Trộm cắp tài sản”. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án và nhân thân của bị cáo: Với mục đích để có tiền chi tiêu cá nhân mà không phải bỏ sức lao động. L dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản, bị cáo L đã lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Đào Văn T một cách trái pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xét xử về các tội trộm cắp tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, là người có sức khỏe nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, lười lao động, vừa mới ra tù vì muốn có tiền tiêu sài nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 29/10/2020 bị cáo lại tiếp tục bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản (Hành vi xảy ra ngày 28/6/2020). Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an trong xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cần xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Vì vậy căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 36B5-680.45 Lê Bá L khai đã bán cho một người đàn ông không quen biết. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh, truy tìm vật chứng nhưng chưa xác định được hiện nay ở đâu.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Đào Văn T giá trị chiếc xe trộm cắp là 11.125.000đ và số tiền 2.500.000đ. Tổng cộng buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền là 13.625.000đ
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 38 BLHS. Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I; Mục 2, Phần 1, tiểu mục 1.2 Danh mục án phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá L 21(Hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 02 năm tù về tội: “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 454/2020 ngày 29/10/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án làm 03 năm 09 tháng tù.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/2020.
Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Đào Văn T giá trị chiếc xe trộm cắp là 11.125.000đ và số tiền 2.500.000đ. Tổng cộng buộc bị cáo phải bồi thường cho anh T số tiền là 13.625.000đ(Mười ba triệu sáu trăm hai lăm nghìn đồng).
Án phí: Bị cáo Lê Bá L phải nộp 200.000đ án phí HSST và 681.000đ án phí DSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ . Nơi nhận:
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Thanh Hóa;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- VKSND H Quảng Xương;
(Đã ký)
- THADS huyện Quảng Xương;
- Bị cáo;
- Người bị hại;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Đào Thị Thu Thủy THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thúy
Nguyễn Thị Lệ Thanh
Đào Thị Thu Thủy
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND H Quảng Xương; - THADS huyện Quảng Xương; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. Liờn hệ | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đào Thị Thu Thủy |