- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị H - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị H phạm Tội vận chuyển hàng cấm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HS-ST Ngày 16 - 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Hải Quân
Bà Hoàng Thị Thu.
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thúy Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Lục Thị Hoàng Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2021/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2021, đối với bị cáo:
Hoàng Thị H; tên gọi khác: Không, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1971 tại huyện Y, tỉnh Yên Bái. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã V, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn D (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); có chồng: Phạm Chí T; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không có; về nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật xử phạt vi phạm hành chính; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2020 đến ngày 09/3/2021 thì bị áp dụng biện pháp thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cho bảo lĩnh; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Hoàng Mai S, sinh năm 1976; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 40 phút ngày 27/12/2020, Tổ công tác Phòng PC08 Công an tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn làm nhiệm vụ tại Km E quốc lộ F, thuộc địa phận thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 12B-002.32 lưu thông theo hướng Lạng Sơn - Hà Nội có biểu hiện nghi vấn vận chuyển hàng cấm, tổ công tác tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra. Quá trình kiểm tra hàng hóa trên xe, phát hiện dưới gầm ghế cuối xe có 01 túi nhựa màu nâu, kẻ caro bên trong là 01 hộp cát tông, trong hộp cát tông chứa 08 (tám) giàn pháo nổ và 01 hộp cát tông được dán kính, bên trong chứa 04 (bốn) giàn pháo, tất cả đều là loại 49 lỗ/ giàn. Người điều khiển xe khai nhận là Hoàng Mai S, sinh năm 1976, trú tại xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, số pháo trên là hành lý của khách nữ đang ngồi ở hàng ghế thứ hai, tính từ trên xuống. Người này khai nhận là Hoàng Thị H, sinh ngày 25/3/1971, trú tại Thôn N, xã V, huyện Y tỉnh Yên Bái. Tổ công tác đã đưa tang vật thu được và những người liên quan về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 12 giàn pháo loại 49 lỗ/giàn, có trọng lượng 21 kg pháo thành phẩm; 02 vỏ thùng cát tông, 01 túi xách màu nâu hình kẻ caro; 01 áo mưa; 01 mảnh vải mưa màu trắng dùng để đựng pháo.
Biên bản xác định trọng lượng pháo lập ngày 27/12/2020 của Công an huyện Cao Lộc xác định: 12 giàn pháo loại 49 lỗ/ giàn của Hoàng Thị H có tổng trọng lượng 21 kg (hai mươi mốt kilogam).
Bản kết luận giám định số: 07/KL PC09 ngày 29/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Mẫu pháo trích ngẫu nhiên từ số pháo khi bắt quả tang Hoàng Thị H đều có chứa thuốc pháo, khi đốt đều phát ra tiếng nổ.
Tại Cơ quan điều tra Hoàng Thị H khai nhận: Cuối năm 2018, Hoàng Thị H từ quê đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để bán hoa quả, trong quá trình kinh doanh, Hoàng Thị H gặp một người đàn ông làm nghề buôn bán gà (không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Ngày 25/12/2020, Hoàng Thị H gặp người đàn ông này và ngỏ ý muốn mua 12 giàn pháo loại 49 lỗ/giàn thì người này nói số pháo trên có giá 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Hoàng Thị H đồng ý và hẹn 03 giờ ngày 27/12/2020 gặp nhau tại khu vực cây xăng thị trấn L để giao pháo và thanh toán tiền. Khoảng 03 giờ ngày 27/12/2020, người đàn ông mang đến khu vực cây xăng thị trấn L 02 thùng cát tông, Hoàng Thị H nhận pháo và trả cho người này 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng). Sau đó, Hoàng Thị H cho một thùng chứa pháo vào túi xách cá nhân, thùng còn lại cất giấu tại thùng rác cạnh đường. Khoảng 07 giờ cùng ngày, Hoàng Thị H đến lấy số pháo trên sau đó đón xe khách đi đến ngã U, M, thành phố S. Tại đây, Hoàng Thị H đón xe ô tô biển kiểm soát 12B-002.32 để đưa pháo về quê, Hoàng Thị H để thùng cát tông và túi xách chứa pháo tại gầm ghế cuối xe và lên xe ngồi ở hàng ghế thứ 02 tính từ trên xuống. Đến khoảng 10 giờ 40 phút, khi xe đi đến Km E quốc lộ F, thuộc địa phận thôn K, xã T, huyện C thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.
Đối với người đàn ông bán pháo cho Hoàng Thị H, do Hoàng Thị H không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Bản Cáo trạng số: 19/CT- VKS, ngày 10/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Thị H về Tội vận chuyển hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị H phạm Tội vận chuyển hàng cấm. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Hoàng Thị H từ 06 tháng đến 09 tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2020 đến ngày 09/3/2021. Do bị cáo không có tài sản, kinh tế gia đình chỉ đủ sống nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.Về xử lý vật chứng: Đối với số pháo còn lại sau giám định và các đồ vật đựng pháo. Hội đồng xử lý tang vật vụ án trong giai đoạn điều tra đã tiêu hủy tang vật. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Hoàng Thị H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Kết luận giám định, Biên bản xác định trọng lượng pháo và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ căn cứ xác định: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 27/12/2020, Tổ công tác Phòng PC08 Công an tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện Cao Lộc làm nhiệm vụ tại Km E quốc lộ F, thuộc địa phận thôn K, xã T đã phát hiện, bắt quả tang Hoàng Thị H có hành vi vận chuyển hàng cấm (pháo nổ) với mục đích dùng để đốt vào dịp tết Nguyên đán. Tang vật thu giữ: 12 giàn pháo loại 49 lỗ/ giàn, tổng trọng lượng 21 kg (hai mươi mốt kilogam pháo). Qua giám định kết luận các mẫu vật gửi giám định bên trong đều chứa thuốc pháo, khi đốt phát ra tiếng nổ. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Thị H phạm Tội vận chuyển hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3 Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thấy rằng: Hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội nhưng thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xong hành vi này đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm trong đó có pháo nổ. Pháo nổ từ lâu đã bị cấm bởi sự nguy hiểm và lãng phí. Hàng năm cứ vào dịp cuối năm tình trạng sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, đốt pháo trái phép lại diễn ra phức tạp, gây nhiều thiệt hại không chỉ cho Nhà nước mà còn gây ra những hậu quả khó lường về sức khỏe, tính mạng, tài sản của nhân dân, gây ảnh hưởng xấu trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, đốt pháo trái phép đều phải bị xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
[5 Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có tài sản, kinh tế gia đình chỉ đủ sống, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông bán pháo cho Hoàng Thị H, do Hoàng Thị H không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này nên không có căn cứ để xác minh, làm rõ. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là pháo còn lại sau giám định và các đồ vật đựng pháo. Hội đồng xử lý tang vật vụ án trong giai đoạn điều tra đã tiêu hủy tang vật theo quy định. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8 Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[9 Về án phí: Bị cáo bị kết án. Nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.
[10 Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị H phạm Tội vận chuyển hàng cấm.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Thị H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án và được trừ đi thời hạn tạm giữ, tạm giam 73 (bẩy mươi ba) ngày (từ ngày 27/12/2020 đến ngày 09/3/2021).
3. Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (1b); - VKSND tỉnh Lạng Sơn (1b); - VKSND huyện Cao Lộc (1b); - TAND tỉnh Lạng Sơn (1b); - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn (1b); - CQĐTCA h. Cao Lộc, t. Lạng Sơn (1b); - CQTHAHSCA h.Cao Lộc, t. Lạng Sơn (1b); - Nhà TGCA h.Cao Lộc, t. Lạng Sơn (1b); - Chi CTHA h.Cao Lộc, t. Lạng Sơn (1b); - Bộ phận thi hành án hình sự (2b); - Lưu (văn phòng; hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Thị Hà |