vanban.org

Bản án 23/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 23/03/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Xuân T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân T 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 16/7/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Xuân T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Xuân T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2021/HS-PT
Ngày 23-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bé.

Các thẩm phán: Ông Trần Mười.

Bà Hoàng Thị Mai Hạnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đại Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Lương Thanh Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2021/TLPT-HS ngày 08 tháng 01 năm 2021 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Xuân T (tên gọi khác: N, B), sinh ngày 15 tháng 9 năm 1991 tại tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Tổ dân phố A 2, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Ngọc B (chết); con bà: Hồ Thị Kim Đ, sinh năm 1963; Vợ: Trần Thị Anh Tr, sinh năm 1996, con: có 02 con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 24/5/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2020 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam; Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Xuân T: Ông Đoàn Nhật N – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Ngãi;

Địa chỉ: Số 108 P, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 16/7/2020, Đặng Xuân T điều khiển xe mô tô đi từ H, Bình Định theo QL1 ra địa phận thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi nhằm mục đích tìm nhà dân sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến thôn D, xã P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo T rẽ xuống một con đường đất, quan sát thấy nhà ông Bùi Văn S ngủ không đóng cửa nên để xe mô tô ở ngoài và đột nhập vào nhà bằng cửa chính để trộm cắp tài sản, khi đột nhập vào nhà ông Bùi Văn S thì tay trái bị cáo T cầm 01 bình xịt hơi cay, bọc 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại (gậy baton) ở túi quần bên phải và mang theo 01 con dao bấm, 01 cái đèn pin nhỏ bọc trong túi áo khoác, mục đích khi trộm cắp bị phát hiện thì đánh lại để tẩu thoát. Khi đột nhập vào trong nhà, Đặng Xuân T quan sát thấy con trai ông Bùi Văn S là Bùi Lê L cùng vợ là Trần Thị LN và con trai Bùi Anh V (SN: 2018) đang ngủ dưới nền nhà có cột mùng, dưới nền nhà gần vị trí nằm ngủ có 01 điện thoại di động SAMSUNG A5, màu đen của Bùi Lê L, Đặng Xuân T lấy chiếc điện thoại trên và cất vào túi áo khoác bên phải, bị cáo T tiếp tục đi vào phòng ngủ để tìm tài sản trộm cắp thì thấy có 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1S, màu trắng vàng, có ốp lưng bằng nhựa của Trần Thị LN đang sạc pin để trên đầu giường nên bị cáo T lấy điện thoại trên và cất vào túi áo khoác bên phải. T tiếp tục lục tìm tài sản trong phòng ngủ thì phát hiện Trần Thị LN đi vệ sinh từ phía sau đi vào, thấy vậy T tay phải cầm cây gậy baton, tay trái cầm bình xịt hơi cay đứng sát vào vách tường, lúc này Trần Thị LN tay phải ôm con trai đi vào trong phòng ngủ để thay quần áo cho con, khi vào phòng vì không bật điện nên chị LN đưa tay trái về phía trước để dò đường thì chạm vào người của bị cáo T, phát hiện có người đột nhập nên chị LN hô to “Trộm trộm” và tay chụp giữ áo (ngay vai) T lại, lúc này chị LN và bị cáo T tư thế đối diện nhau, bị giữ áo nên bị cáo T tung ra và tay phải dùng gậy baton đánh 02 cái trúng vào cánh tay trái chị LN rồi bỏ chạy ra ngoài cùng với tài sản trộm cắp trong túi áo khoác thì bị anh Bùi Lê L thức dậy ôm giữ bị cáo T lại, chị LN cùng chồng mình khống chế bị cáoT, cùng lúc này Bùi Trần T2 (SN: 2006) con trai Bùi Lê L ngủ ở phòng ngủ kế bên thức dậy, chạy đến cùng hỗ trợ vật đè T xuống dưới nền nhà, bị cáo T liên tục vùng vẫy, giằng co để tẩu thoát, lúc này ông Bùi Văn S đến định xem mặt của T thì bị T dùng bình xịt hơi cay xịt trúng vào vùng mặt và cánh tay trái (vùng bắp tay) để có cơ hội tẩu thoát nhưng không được. Sau đó gia đình ông Bùi Văn S khống chế, trói bị cáo Đặng Xuân T lại và báo cho Công an xã Phổ Khánh đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

- Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đức hổ xác định giá trị 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG A5, màu đen là 775.000 đồng, giá trị 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO F1S là 2.065.000 đồng, giá trị của 01 ốp lưng bằng nhựa, màu nâu xanh (bọc ở ngoài chiếc điện thoại OPPO) là 35.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.875.000đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân T 04 (bốn) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/7/2020.

Ngoài ra, còn tuyên về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 03/12/2020, bị cáo Đặng Xuân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

*Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thì thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét về nhân thân và đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù là không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Xuân T, giữ nguyên mức hình phạt mà bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

* Người bào chữa cho bị cáo Đặng Xuân T: Ông Đoàn Nhật N phát biểu: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đặng Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Việc đánh giá các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng hình phạt đối với bị cáo tại bản án sơ thẩm là chưa phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi của bị cáo Đặng Xuân T: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đặng Xuân T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận vào khoảng 00 giờ 45 phút ngày 16/7/2020, Đặng Xuân T điều khiển xe mô tô đi từ H, Bình Định đến thôn D, xã P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, bị cáo quan sát thấy nhà ông Bùi Văn S không đóng cửa. Đặng Xuân T đột nhập vào trong nhà, lén lút lấy 01 điện thoại di động SAMSUNG A5, màu đen và 01 điện thoại di động hiệu OPPO F1S, màu trắng vàng, có ốp lưng bằng nhựa cất vào túi áo khoác bên phải. Bị cáo tiếp tục lục tìm tài sản thì bị chị LN phát hiện, bị cáo dùng gậy baton đánh 02 cái trúng vào cánh tay trái chị LN rồi bỏ chạy ra ngoài cùng với tài sản trộm cắp thì bị anh Bùi Lê L, chị LN, anh Bùi Trần T2 khống chế, vật đè T xuống dưới nền nhà, bị cáo T liên tục vùng vẫy, giằng co để tẩu thoát, ông Bùi Văn S đến định xem mặt của T thì bị T dùng bình xịt hơi cay xịt trúng vào vùng mặt và cánh tay trái để có cơ hội tẩu thoát nhưng không được. Sau đó gia đình ông S khống chế, trói bị cáo Đặng Xuân T lại và báo cho Công an xã Phổ Khánh đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.875.000đồng.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Đặng Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với gậy baton; bình xịt hơi cay bị cáo T sử dụng để hành hung nhằm mục đích tẩu thoát. Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: 01 bình xịt hơi cay mà bị cáo Đặng Xuân T đã sử dụng khi hành hung bị hại nhằm để tẩu thoát là phương tiện xịt hơi cay, đây là công cụ hỗ trợ được quy định tại điểm b, khoản 11, Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017; 01 cây gậy ba khúc bằng kim loại (baton) là công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự dùi cui kim loại, được quy định tại điểm e, khoản 11 Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2017.

Lẽ ra Công an thị xã Đức Phổ xử phạt vi phạm hành chính đối với Đặng Xuân T về hành vi “ Sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 10 Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP Ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ. Hội đồng xét xử kiến nghị Công an thị xã Đức Phổ xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với Đặng Xuân T theo quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Đặng Xuân T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cân nhắc về nhân thân áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xử phạt bị cáo 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” là không nặng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là đúng quy định và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đề nghị của Người bào chữa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Đặng Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Xuân T. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 30/2020/HS-ST ngày 30/11/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Xuân T 04 (bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 16/7/2020.

2. Về án phí: Bị cáo Đặng Xuân T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- VKSND, TAND thị xã Đức Phổ;

- Công an thị xã Đức Phổ;

- THA dân sự thị xã Đức Phổ;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Trần Thị Bé THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Hùng

Trần Thị Bé

Nguyễn Văn Năm

Cỡ chữ