vanban.org

Bản án 23/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 07/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 18 (mười tám) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Về án phí: Áp dụng các điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn N - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2021/HS-PT
Ngày 07 - 4 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Trần Quỳnh Phương

Các Thẩm phán:

Ông Châu Văn Mỹ

Ông Trần Quang Khang

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuyên, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 15/2021/TLPT-HS ngày 18/02/2021 đối với bị cáo Nguyễn Văn N, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1994 tại thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. Nơi cư trú: Ấp U, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970 và bà Lê Thị C, sinh năm 1971; có vợ tên Võ Ngọc Đ, sinh năm 1994 và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, (có mặt).

Ngoài ra còn có bị hại là anh Đào Công B, sinh năm 1992 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lý Văn T, sinh năm 1980 không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 05/7/2020, anh Đào Công B cùng với anh Đào Minh Đ đi đến trại tôm của anh Lý Văn T để xin việc làm cho Đ. Khi đến nhà anh T, lúc này tại trại tôm có Nguyễn Văn N, T1 và 01 số người khác đang ngồi uống rượu; T1 rủ B và Đ nhậu chung. Tất cả uống rượu được khoảng 15 phút, giữa Nguyễn Văn N và Đào Công B xảy ra mâu thuẫn dẫn đến đánh nhau (đánh bằng tay, không ai bị thương tích gì), được mọi người can ngăn, sau đó B và Đ bỏ về, trước khi đi về B có nói sẽ chặn đường đánh N. Sau đó, N cũng đi về nhưng nhớ lại là bị B hăm dọa đánh, N đi xuống võ lãi của anh T lấy cây dao bằng kim loại, loại dao mác dài khoảng 50cm bỏ vào trong áo, phần sau lưng. N nhờ N1 điều khiển xe mô tô chở N đến nhà B để đánh B (N1 không biết N có mang theo cây dao để trong áo). Khi đến nhà B, N không gặp được B nên cả hai bỏ về nhà N thuộc ấp U, xã P, thị xã G.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, C (P), N2, T1 chạy xe vào nhà N, rủ N làm mồi để nhậu tiếp; N không đồng ý và rủ mọi người ra chợ PS uống cà phê, tất cả đồng ý. Trước khi ra chợ PS, N lấy theo cây dao nói trên để trên xe, rồi điều khiển xe chở C ngồi phía sau (N định uống cà phê xong trả dao cho anh T); N1, T1, N2 điều khiển xe chạy phía sau. Khi đến gần cầu Út R thuộc ấp B, xã VT, huyện P, N nhìn thấy B đang đứng bên lề đường nói chuyện cùng với Nguyễn Văn T2 và Mai Văn S, N dừng xe lại; N không nói gì, lấy cây dao nói trên chém 02 cái vào người B, gây thương tích cho B ở vùng mặt và tay trái thì dừng lại; B được S đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Phước Long. N mang cây dao trên đi qua cầu Út R khoảng 200m về hướng chợ PS và ném cây dao xuống sông.

Theo kết luận giám định pháp y về thương tích số 155/TgT ngày 10/9/2020 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Bạc Liêu kết luận, Đào Công B bị các thương tích sau:

- Một sẹo nằm ngang mũi. Tỷ lệ 06%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trước ra sau.

- Một sẹo ở 1/3 bên ngoài cẳng tay trái. Tỷ lệ 02%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải.

- Gãy xương chính mũi không ảnh hưởng đến chức năng thở. Tỷ lệ 8%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc tác động từ trái qua phải.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 18 (mười tám) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, lãi suất trong quá trình thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/01/2021 bị cáo kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về hình thức: Xét đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên cấp phúc thẩm chấp nhận và đưa ra xét xử là hợp lệ.

Về nội dung: Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại nhưng sau khi phân tích hành vi phạm tội, nội dung kháng cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có căn cứ xác định mức án 18 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về thể thức và thời hạn nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại trong quá trình điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 16 giờ ngày 05/7/2020, bị cáo Nguyễn Văn N đã dùng dao chém vào người anh Đào Công B gây thương tích, qua giám định tỷ lệ tổn thương là 15%. Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[2.2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự tại địa phương, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng bị cáo lại cầm dao gây thương tích cho bị hại nên cần xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và cũng để răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội. Sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại như Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long đã quyết định về trách nhiệm dân sự, Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cho bị cáo, án sơ thẩm đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, từ đó xử phạt bị cáo 18 tháng tù là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo mà chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu là giữ nguyên án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 18 (mười tám) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

5. Về án phí: Áp dụng các điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

6. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2020/HS-ST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ