vanban.org

Bản án 23/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P1 được ly hôn với anh Dương Hữu P2.

2/ Về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau ly hôn: Giao 02 người con tên Dương Anh Đ sinh ngày 08.9.2005 và Dương Ánh N sinh ngày 08.01.2018 cho chị Nguyễn Thị P1 tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành. Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P1 được ly hôn với anh Dương Hữu P2.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ AN NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 28-10-2021
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Lệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Xuân Dũng

2. Bà Trương Thị Hiệp

- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Mai Đoan Thục - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã AnNhơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đồng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 204/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 9 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 49/2021/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1981 (có mặt)

HKTT: 175 đường H, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định

Hiện trú tại: Đội 4, Khu vực C, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định

* Bị đơn: Anh Dương Hữu P2, sinh năm 1979 (vắng mặt)

HKTT: 175 đường H, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định

Hiện trú tại: 379 đường H, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị P1 trình bày: Chị và anh Dương Hữu P2 có thời gian tìm hiểu vài năm và được gia đình tổ chức lễ cưới vào năm 2005 có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ. Sau khi cưới, vợ chồng sống tại nhà cha mẹ chồng ở phường Đ, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân từ việc anh P2 có nghề sửa xe ôtô nhưng anh P2 đi làm về không đưa tiền cho chị nuôi con mà tự chi tiêu cho bản thân và chơi số đề nên vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn kình cãi. Đến đầu năm 2018 chị ẵm con về phía nhà mẹ ruột sống, anh P2 nhiều lần đến thuyết phục chị về chung sống nhưng chị không đồng ý mà làm đơn ly hôn nhưng sau đó rút đơn. Đến đầu năm 2021 thì vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, chị nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn giải quyết nhưng sau đó gia đình thuyết phục, chị muốn cho anh P2 cơ hội để thay đổi nên rút đơn ly hôn. Từ khi rút đơn, chị ra ngoài thuê nhà sống thì anh P2 có đến nhưng chưa được 01 tháng vợ chồng lại thường xuyên kình cãi, mâu thuẫn căng thẳng hơn nên chị quay về nhà mẹ ruột sống. Sau đó anh P2 có gọi chị về nói chuyện nhưng khi chị đến thì anh P2 vào nhà cầm dao hăm dọa chị, lúc đó có sự chứng kiến của cha chồng và hai con. Cha chồng thấy vậy mới nói chị dẫn con về nhà mẹ ruột ở, vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2021 cho đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm với nhau và chung sống không hạnh phúc nên chị kiên quyết yêu cầu yêu ly hôn với anh Dương Hữu P2.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên Dương Anh Đ sinh ngày 08.9.2005 và Dương Ánh N sinh ngày 08.01.2018 hiện đang sống với chị, ly hôn chị yêu cầu nuôi hai con và không yêu cầu anh P2 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập và thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải cho gia đình anh Dương Hữu P2 nhưng anh P2 không đến Tòa để trình bày ý kiến, yêu cầu.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị P1 được ly hôn với anh Dương Hữu P2

2. Về con chung: Giao cháu Dương Anh Đ, Dương Ánh N cho chị Nguyễn Thị P1 nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị P1 không yêu cầu anh Dương Hữu P2 cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị P1 không yêu cầu anh Dương Hữu P2 không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Dương Hữu P2 được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điểm b, Khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh P2.

Về nội dung:

Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chi ̣ Nguyễn Thị P1 và anh Dương Hữu P2 được xác lâ ̣p trên cơ sở tự nguyê ̣n, tuân thủ các điều kiê ̣n về kết hôn, được UBND phường Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng trong quá trình chung sống, giữa chị P1 và anh P2 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Năm 2015 chị P1 yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn giải quyết việc ly hôn nhưng sau đó rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Vợ chồng chung sống đến tháng 7 năm 2020 thì tiếp tục mâu thuẫn nên chị P1 gửi đơn ly hôn lần 2 đến tháng 3 năm 2021 chị Phương rút đơn ly hôn. Nhưng sau khi chị P1 rút đơn ly hôn thì vợ chồng lại tiếp tục mâu thuẫn căng thẳng và sống ly thân cho đến nay. Từ mâu thuẫn của vợ chồng, chị P1 nhiều lần nộp đơn ly hôn nhưng sau đó rút đơn cho thấy thiện chí của chị P1 rất mong muốn vợ chồng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng chị P1 lại tiếp tục nộp đơn ly hôn chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng đã quá trầm trọng. Trong quá trình Tòa án giải quyết, từ khi thụ lý vụ án đến khi tiến hành các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã nhiều lần triệu tập và thông báo phiên họp hòa giải nhưng anh Dương Hữu P2 vẫn cố tình tránh né không đến Tòa để trình bày ý kiến, yêu cầu của mình cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến yêu cầu và không tham gia hòa giải do Tòa án tiến hành. Điều này chứng tỏ anh P2 không mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm, xét thấy hôn nhân giữa chị P1 và anh P2 đang trong tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị P1 đối với anh Dương Hữu P2.

Về con chung: Căn cứ các chứng cứ có trong hồ sơ xác định vợ chồng chị P1, anh P2 có 02 người con tên Dương Anh Đ sinh ngày 08.9.2005 và Dương Ánh N sinh ngày 08.01.2018 hiện đang sống với chị P1. Ly hôn, chị P1 yêu cầu nuôi 2 người con, xét yêu cầu của chị P1, Hội đồng xét xử thấy rằng: hiện hai người con vẫn do chị P1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, hơn nữa cháu Dương Anh Đ có nguyện vọng tha thiết được ở với mẹ. Do đó để đảm bảo việc học cũng như môi trường sống của các cháu được ổn định nên giao hai cháu Dương Anh Đ và Dương Ánh N cho chị P1 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến tuổi trưởng thành. Chị P1 không yêu cầu anh P2 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị P1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị P1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội số 14 ngày 30.12.2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P1 được ly hôn với anh Dương Hữu P2.

2/ Về trách nhiệm nuôi dưỡng con chung sau ly hôn: Giao 02 người con tên Dương Anh Đ sinh ngày 08.9.2005 và Dương Ánh N sinh ngày 08.01.2018 cho chị Nguyễn Thị P1 tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến tuổi trưởng thành.

Sau ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3/ Về tài sản chung và nợ chung: Chị P1 không yêu cầu giải quyết.

4/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị P1 phải chịu 300.000đ được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004797 ngày 27.4.2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.

5/ Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng anh Dương Hữu P2 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên cấp xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ