- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Hồ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn " của bà Hồ Thị Thu T đối với ông Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HNGĐ-ST Ngày: 12/9/2021 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
Ông Nguyễn Kim Thành
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Tín - Thư ký TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Bà Lƣu Thu Hà- Kiểm sát viên.
Ngày 12/9/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/7/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02/8/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2021/QĐST-HNGĐ ngày 24/8/2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thu T, sinh năm: 1982. Trú tại: K54/10 đường L, phường M, S, TP. Đà Nẵng;(Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1980. Trú tại: K54/10 đường L, phường M, quận S, TP. Đà Nẵng;(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Hồ Thị Thu T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn N xây dựng gia đình với nhau vào năm 2009. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, huyện Đ, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà chung sống tại nhà cha, mẹ ruột ông N ở địa chỉ: K54/10 đường L, phường M, quận S, TP. Đà Nẵng. Sau khi kết hôn thì giữa vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông N thường xuyên rượu chè về nhà gây sự, đánh đập bà. Ngoài ra ông N còn có tình cảm với người phụ nữ khác, bà đã khuyên nhủ ông N nhiều lần nhưng ông N vẫn không thay đổi làm cho đời sống hôn nhân ngày càng trầm trọng. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm của bà đối với ông Nguyễn Văn N không còn, do đó bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.
- Về quan hệ con chung: Bà Hồ Thị Thu T xác định bà và ông Nguyễn Văn N có 02 con chung là: Nguyễn Hồ Trà M, sinh ngày: 29/6/2010 và Nguyễn Hồ Thu X, sinh ngày: 29/11/2014. Ly hôn, bà Hồ Thị Thu T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Bà Hồ Thị Thu T yêu cầu ông Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung 1.500.000 đồng/ tháng) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 9/2021, vào ngày 10 hàng tháng.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà Hồ Thị Thu T xác định không có.
- Về nợ chung: Bà Hồ Thị Thu T xác định không có.
* Đối với bị đơn – ông Nguyễn Văn N: Mặc dù đã được Tòa án đã giao hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Văn N đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi nên không ghi nhận được ý kiến của ông về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng pháp luật, riêng bị đơn ông Nguyễn Văn N không chấp hành triệu tập của Tòa án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị Thu T đối với ông Nguyễn Văn N.
- Về quan hệ con chung: Áp dụng điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao 02 con chung là: Nguyễn Hồ Trà M, sinh ngày: 29/6/2010 và Nguyễn Hồ Thu X, sinh ngày: 29/11/2014 cho bà Hồ Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Buộc ông Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung 1.500.000 đồng/ tháng) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 9/2021, vào ngày 10 hàng tháng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Thu T xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung. Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn N vắng mặt nên để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:
Về thủ tục: Đơn khởi kiện của bà Hồ Thị Thu T nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Hồ Thị Thu T là nguyên đơn trong vụ án, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 08/9/2021. Hội đồng xét xử căn cứ điều 228 Bộ luật dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn.Ông Nguyễn Văn N là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Nguyễn Văn N vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn. Đồng thời, Hội đồng xét xử căn cứ điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về nội dung: Bà Hồ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn N đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại UBND phường H, huyện Đ, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận kết hôn số: 120, quyển số: 01 cấp ngày 18/12/2009. Hôn nhân tự nguyện, có thời gian tìm hiểu nhau. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng ông, bà chung sống tại nhà cha, mẹ ruột ông N ở địa chỉ: K54/10 Lê Văn Thứ, phường M, quận S, TP. Đà Nẵng. Sau khi kết hôn thì giữa vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông N thường xuyên rượu chè về nhà gây sự, đánh đập bà. Ngoài ra ông N còn có tình cảm với người phụ nữ khác,bà đã khuyên nhủ ông N nhiều lần nhưng ông N vẫn không thay đổi làm cho đời sống hôn nhân ngày càng trầm trọng. Nay bà Hồ Thị Thu T xác định không còn yêu thương ông Nguyễn Văn N nữa, bà xin được ly hôn.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Hồ Thị Thu T đối với ông Nguyễn Văn N thì thấy: Hạnh phúc gia đình chỉ thật sự có được dựa trên sự yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, thế nhưng giữa bà Hồ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn N lại không làm được điều này. Khi mâu thuẫn xảy ra hai bên không tìm được cách giải quyết đề hàn gắn và xây dựng gia đình. Qua xác minh tại địa phương cũng thể hiện mâu thuẫn giữa bà T và ông N xảy ra do ông N có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, to tiếng với nhau. Về phía ông Nguyễn Văn N, Tòa án đã tạo điều kiện nhiều lần để vợ chồng hòa giải mâu thuẫn, trở về đoàn tụ chung sống với nhau nhưng ông Nguyễn Văn N đều vắng mặt tại các phiên hòa giải. Việc này cho thấy ông Nguyễn Văn N không tôn trọng Tòa án và thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, không có thiện chí níu kéo mối quan hệ hôn nhân của mình. Xét thấy, mâu thuẫn của bà Hồ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn N đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị Thu T đối với ông Nguyễn Văn N là phù hợp quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Hồ Thị Thu T xác định bà và ông Nguyễn Văn N có 02 con chung là: Nguyễn Hồ Trà M, sinh ngày: 29/6/2010 và Nguyễn Hồ Thu X, sinh ngày: 29/11/2014 cho bà Hồ Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Buộc ông Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung 1.500.000 đồng/ tháng) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 9/2021, vào ngày 10 hàng tháng.
Xét yêu cầu của bà T về việc nuôi con chung thì thấy: Việc giao con cho ai trông nom, nuôi dưỡng đều phải dựa vào quyền lợi mọi mặt của con, đảm bảo được sự phát triển của con cả về thể chất lẫn tinh thần. Từ khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, còn ông N thường xuyên vắng nhà không quan tâm, chăm lo cho con cái nên việc giao cả hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con chung, phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo cho các con ổn định cuộc sống và môi trường học tập cũng như phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần xem xét chấp nhận yêu cầu của bà T.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, đây là nghĩa vụ, trách nhiệm của bên không trực tiếp nuôi con sau ly hôn, tuy nhiên mức cấp dưỡng nuôi con còn phải căn cứ vào mức thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của con chung. Trong quá trình tố tụng, bà T yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi cả hai con mỗi tháng là 3.000.000 đồng (1.500.000 đồng/ con/tháng). HĐXX xét thấy phù hợp với tình hình thực tế và phù hợp với điều 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình nghĩ nên chấp nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Hồ Thị Thu T xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung. Ông Nguyễn Văn N vắng mặt nên không ghi nhận được kiến của ông về vấn đề này. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự, HĐXX không xem xét giải quyết. Nếu các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000 đồng bà Hồ Thị Thu T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Án phí cấp dƣỡng nuôi con: 300.000 đồng ông Nguyễn Văn N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Ly hôn " của bà Hồ Thị Thu T đối với ông Nguyễn Văn N.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hồ Thị Thu T được ly hôn ông Nguyễn Văn N.
Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị Thu T đối với ông Nguyễn Văn N nên giấy chứng nhận kết hôn số 120, quyển số 01 do UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho bà Hồ Thị Thu T và ông Nguyễn Văn N ngày 18/12/2009 không còn giá trị pháp lý.
2. Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung là: Nguyễn Hồ Trà M, sinh ngày: 29/6/2010 và Nguyễn Hồ Thu X, sinh ngày: 29/11/2014 cho bà Hồ Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Buộc ông Nguyễn Văn N cấp dưỡng nuôi các con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng (mỗi con chung 1.500.000 đồng/ tháng) cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 9/2021, vào ngày 10 hàng tháng.
Bên không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên đều có quyền yêu cầu giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Kể từ quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 Bộ luật dân sự.
3. Án phí HNGĐ-ST: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Hồ Thị Thu T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Hồ Thị Thu T đã nộp tại biên lai thu số 0006617 ngày 16/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Bà Hồ Thị Thu T đã nộp đủ án phí.
4. Án phí cấp dƣỡng nuôi con: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông Nguyễn Văn N phải chịu.
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận Sơn Trà; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - UBND xã H, Huyện Đ, tỉnh Long An; - Lưu hồ sơ, | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Trâm |