vanban.org

Bản án 23/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Kiều Thị V.

Chị Kiều Thị V được ly hôn anh Hoàng Đông H Về con chung: Anh Hai, chị Vân có 01 con chung là cháu Kiều Thị Hương Ly, sinh ngày 30/12/2015. Giao cháu Kiều Thị Hương Ly cho chị Kiều Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ly đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vân - Hai"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Kiều Thị V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2021/HNGĐ-ST.
Ngày: 12 – 10 - 2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Tuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Sơn và bà Trịnh Thị Ánh Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Khuất Thị Mỹ Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 96/2021/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2021 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 07/9/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2021/QĐ-HNGĐ ngày 23/9/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Kiều Thị V, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn 4, xã Sen Phương, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội; có mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Đông H, sinh năm 1996; nơi ĐKHKTT: Thôn Phú Châu, xã Xuân Đình, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo của chị Kiều Thị V trình bày: Chị kết hôn với anh Hoàng Đông H tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ (nay là UBND xã Xuân Đình) ngày 24/8/2016. Sau khi cưới chị về gia đình anh Hai làm ăn chung sống. Vợ chồng sống hạnh phúc thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Anh Hai nhiều lần đánh chị, không quan tâm đến vợ con, có lúc anh đi vài tháng mới về nhà. Từ tháng 07/2018 chị cùng con đã về gia đình bố mẹ đẻ chị ở. Anh Hai cũng không đến đón chị và con về. Lúc đầu, anh thỉnh thoảng gọi điện thoại hỏi thăm con, sau đó anh không liên lạc gì. Chị và anh Hai đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Xác định tình cảm giữa chị và anh Hai không còn, đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Hai để chị ổn định cuộc sống mới và đảm bảo quyền lợi cho chị.

Về con chung: Chị và anh Hai có 01 con chung là cháu Kiều Thị Hương Ly, sinh ngày 30/12/2015. Hiện nay, cháu Ly đang ở với chị. Ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh Hai cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa chị và anh Hai không có tài sản gì và không nợ ai.

* Bị đơn: Anh Hoàng Đông H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và niêm yết văn bản theo quy định pháp luật nhưng anh Hai vắng mặt tất cả các lần Tòa án báo gọi nên không có bản tự khai và không tiến hành hòa giải được.

* Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị Hoàn – là mẹ đẻ anh Hai và anh Hoàng Đông Hải – là anh trai anh Hai đều xác định: Chị Vân và anh Hai đã ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Từ khi chị Vân về gia đình bên ngoại, anh Hai đi làm ăn xa, ít về nhà hơn, anh chỉ về nhà vào dịp nghỉ lễ, Tết. Do hiện nay anh Hai đang đi làm xa nên không đến Tòa án làm việc được. Gia đình đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, chị Vân giữ nguyên yêu cầu được ly hôn anh Hai, được nuôi con chung sau khi ly hôn và vợ chồng không có tài sản chung. Anh Hai đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Kiều Thị V. Chị Kiều Thị V được ly hôn anh Hoàng Đông H. Về con chung: Giao cháu Kiều Thị Hương Ly, sinh ngày 30/12/2015 cho chị Vân trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hai. Về tài sản chung: Không có. Chị Vân phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về tố tụng: Nguyên đơn là chị Kiều Thị V có đơn xin ly hôn với anh Hoàng Đông H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Xuân Đình, huyện Phúc Thọ và quan hệ tranh chấp về ly hôn nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quan hệ hôn nhân giữa chị Kiều Thị V và anh Hoàng Đông H trên cơ sở kết hôn tự nguyện, đăng ký vào ngày 24/8/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Xuân Phú (nay là xã Xuân Đình), huyện Phúc Thọ nên được xác định là hôn nhân hợp pháp theo quy định khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.

Sau khi kết hôn, anh Hai chị Vân sống hạnh phúc thời gian ngắn. Nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên không có hạnh phúc, mâu thuẫn thường xuyên. Từ tháng 07/2018 chị Vân đã về gia đình bố mẹ đẻ ở, anh Hai đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà. Anh Hai, chị Vân sống ly thân từ đó cho đến nay, không quan tâm đến nhau. Chị Vân xác định không còn tình cảm vợ chồng và xin được ly hôn anh Hai. Quá trình giải quyết, anh Hai đã được Tòa án triệu tập nhiền lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có bản tự khai, không đến hòa giải như vậy thể hiện anh Hai cũng không mong muốn vợ chồng đoàn tụ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị Vân và anh Hai không còn gắn bó, vợ chồng đã sống ly thân, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt, chị Vân xin ly hôn anh Hai là có căn cứ, cần được chấp nhận.

- Về con chung: Anh Hai, chị Vân có 01 con chung là cháu Kiều Thị Hương Ly, sinh ngày 30/12/2015. Hiện nay, cháu Ly đang ở với chị Vân. Ly hôn, chị Vân và gia đình anh Hai đều có nguyện vọng được nuôi cháu Ly. Anh Hai không có nhà, không có ý kiến về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau khi ly hôn. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Ly, xét yêu cầu được nuôi con của chị Vân là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vân không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hai.

- Về tài sản chung: Chị Vân xác định không có. Để đảm bảo quyền lợi cho anh Hai, Tòa án chưa giải quyết phần tài sản trong vụ án này. Nếu anh Hai, chị Vân có tranh chấp về tài sản chung với nhau sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vân phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc yêu cầu ly hôn của chị Kiều Thị V.

- Chị Kiều Thị V được ly hôn anh Hoàng Đông H

- Về con chung: Anh Hai, chị Vân có 01 con chung là cháu Kiều Thị Hương Ly, sinh ngày 30/12/2015. Giao cháu Kiều Thị Hương Ly cho chị Kiều Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Ly đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Chị Kiều Thị V không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hoàng Đông H cho đến khi có yêu cầu mới hoặc khi có quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Anh Hai có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: Không giải quyết.

2. Về án phí: Chị Kiều Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0040064 ngày 08/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáp bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ