vanban.org

Bản án 23/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị H.

1/ Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị H và anh Lê Xuân Đ. 2/ Về nuôi con chung: Giao con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2015 cho chị Trương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị H và Lê Xuân Đ"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2021/HNGĐ-ST
Ngày 28 tháng 9 năm 2021
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Thế Chiến.

2. Ông Vũ Kim Quy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2021 về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1989. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

2. Bị đơn: Anh Lê Xuân Đ, sinh năm 1983. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/5/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị H trình bày:

Chị H kết hôn với anh Lê Xuân Đ trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea, huyện K vào ngày 12/3/2014. Sau khi kết hôn, anh chị cư trú tại thôn T, xã E, huyện K. Quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, xung đột xảy ra thường xuyên, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, anh chị đã sống ly thân gần 02 năm nay. Nhận thấy giữa chị và anh Đ không còn tình cảm, không còn thương yêu nhau, nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Xuân Đ.

Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung tên là Lê Bảo N, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2015. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh chị không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng anh chị.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lê Xuân Đ để tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự tại Tòa án. Nhưng anh Đ vắng mặt tại buổi làm việc, không tham gia phiên họp và hòa giải, không tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, về thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi thông báo thụ lý vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56; 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

+ Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị H, cho chị H được ly hôn với anh Lê Xuân Đ.

+ Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2015. Quá trình tham gia tố tụng, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nhận thấy con chung đang được chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, cần tiếp tục giao cháu Lê Bảo N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung: Khi ly hôn, đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân, đương sự xác nhận không có nên không đề cập giải quyết.

+ Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị H có đơn khởi kiện ly hôn anh Lê Xuân Đ và xin nuôi con chung. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”. Bị đơn anh Lê Xuân Đ cư trú tại T, xã Ea, huyện K, tỉnh Đăk Lăk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đăk Lăk.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho các đương sự để tham gia tố tụng, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Trương Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Xuân Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về các yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H và anh Lê Xuân Đ đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea, huyện K vào ngày 12/3/2014, là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp, từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra xung đột, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, hiện hai người đã sống ly thân. Nay chị H yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị ly hôn anh Đ.

Qua kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy, vợ chồng anh Đ, chị H đã xảy ra mâu thuẫn, hiện hai người đã sống ly thân.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ đã xảy ra trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

- Về con chung: Chị H và anh Đ có 01 con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2015, hiện đang sống với chị H. Quá trình giải quyết vụ án, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét thấy yêu cầu trên của nguyên đơn phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế giữa các bên. Cần giao cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi thành niên, chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung.

- Về tài sản chung: Nguyên đơn chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Nguyên đơn xác nhận không có nên không đề cập giải quyết.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị H.

1/ Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị H và anh Lê Xuân Đ.

2/ Về nuôi con chung: Giao con chung là Lê Bảo N, sinh ngày 13 tháng 01 năm 2015 cho chị Trương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Anh Đ có quyền thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được cản trở.

3/ Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, biên lai số 6888 ngày 10 tháng 6 năm 2021.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ