- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị S ly hôn với anh Bùi Hữu Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HNGĐ - ST Ngày 20/4/2021 V/v!"!Ly!hôn,!tranh!chấp!nuôi!dưỡng! !!!!!!!!!!!!!!!con!chung!khi!ly!hôn!”!!!!!!!! ! ! ! |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:!
Thẩm!phán!-!Chủ!tọa!phiên!tòa: Ông Phạm Như Long
Các!Hội!thẩm!nhân!dân:
1. Bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết
2. Bà Triệu Thị Phấy
Thư ký phiên tòa: Ông Hà Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
Ngày 20 tháng 4 năm 2021. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 280/2020/TLST - HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc “ Ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
1- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị S - Sinh năm: 1993
Địa chỉ: Thôn H, xã C, huyện B1, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.
2- Bị đơn: Anh Bùi Hữu Th - Sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt tại phiên tòa (Đã có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2020 và các bản tự khai của chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án thì chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 28/6/2012. Sau ngày kết hôn, vợ chồng về chung sống, hoà thuận hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do bất đồng quan điểm trong làm ăn và tạo dựng cuộc sống gia đình và nuôi dậy con cái, cuộc sống vợ chồng thường xuyên sẩy ra bất hòa, cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Khi mâu thuẫn sảy ra vợ chồng đã được gia đình, anh em khuyên giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Thực tế vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 3/2019 cho đến nay vợ chồng không quan tâm gì nhau và cũng không có trách nhiệm gì với nhau nữa. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Phạm Thị S có yêu cầu và nguyện vọng xin được ly hôn với anh Bùi Hữu Th.
Đối với anh Bùi Hữu Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bản thân anh Bùi Hữu Th đã có bản tự khai và anh cũng thừa nhận mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục được. Nay chị Phạm Thị S có yêu cầu xin ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn với lý do tình cảm vợ chồng không còn.
Về con chung: Chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th đều xác nhận anh, chị chung sống với nhau đến nay đã có 01 con chung. Cháu Bùi Gia B - Sinh ngày: 12/5/2013. Hiện nay cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng với chị Phạm Thị S tại Thôn H, xã C, huyện B1, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Phạm Thị S có yêu cầu và nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bùi Gia B cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Phạm Thị S không yêu cầu anh Bùi Hữu Th phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Anh Bùi Hữu Th cũng nhất trí về việc nuôi dưỡng con chung theo yêu cầu của chị Phạm Thị S.
Về tài sản chung: Chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th đều xác nhận trong thời gian chung sống anh, chị chưa tạo dựng được tài sản gì chung. Khi ly hôn anh, chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th đều xác nhận trong thời gian chung sống anh, chị không vay mượn gì của ai và cũng không cho ai vay mượn gì. Nên khi ly hôn anh, chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:
. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 28/6/2012. Đây là một hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Sau ngày kết hôn vợ chồng về chung sống hoà thuận hạnh phúc, đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến việc chị Phạm Thị S làm đơn xin ly hôn anh Bùi Hữu Th là do quan điểm, cách sống của vợ chồng không thống nhất với nhau trong việc làm ăn, phát triển kinh tế gia đình và nuôi dậy con cái, từ đó vợ chồng thường xuyên sẩy ra cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Khi sảy ra mâu thuẫn anh, chị đã được hai bên gia đình, anh em bạn bè tham gia khuyên giải nhưng đều không kết quả. Thực tế vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 3/2019 cho đến nay vợ chồng không quan tâm gì đến nhau và cũng không có trách nhiệm gì với nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn ngày 08/10/2020 chị Phạm Thị S làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Bùi Hữu Th.
Tại phiên tòa hôm nay anh Bùi Hữu Th vắng mặt (Đã có đơn xin xét xử vắng mặt) nhưng trong quá trình giải quyết vụ án thì anh Bùi Hữu Th đã có bản tự khai anh cũng thừa nhận mâu thuẫn của vợ chồng là do quan điểm, cách sống của vợ chồng không thống nhất với nhau trong việc làm ăn, phát triển kinh tế gia đình và nuôi dậy con cái, từ đó vợ chồng thường xuyên sẩy ra cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Khi sảy ra mâu thuẫn anh, chị đã được hai bên gia đình, anh em bạn bè tham gia khuyên giải nhưng đều không kết quả. Thực tế vợ chồng đã tự sống ly thân không còn ai quan tâm gì đến nhau nữa. Đến nay chị Phạm Thị S xin ly hôn anh Bùi Hữu Th nhất trí ly hôn với lý do tình cảm vợ chồng không còn.
Tại phiên tòa hôm nay xét yêu cầu của chị Phạm Thị S về việc ly hôn là có căn cứ và phù hợp với các qui định tại Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình. Nên hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Về con chung:
Chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th đều xác nhận anh, chị chung sống với nhau đến nay đã có 01 con chung cháu Bùi Gia B - Sinh ngày: 12/5/2013. Hiện nay cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng với chị Phạm Thị S tại Thôn H, xã C, huyện B1, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Phạm Thị S có yêu cầu và nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Bùi Gia B cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh Bùi Hữu Th phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Tại bản tự khai ngày 05/01/2021 của anh Bùi Hữu Th thì bản thân anh cũng nhất trí để chị Phạm Thị S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bùi Gia B cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Xét yêu cầu của chị Phạm Thị S về việc nuôi dưỡng con chung là có căn cứ phù hợp với tâm tư nguyện vọng của cháu nhỏ, đảm bảo được sự ổn định về tâm lý cũng như sinh hoạt của cháu và phù hợp với các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Nên hội đồng xét xử cấn chấp nhận.
Về tài sản chung:
Tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th đều xác nhận trong thời gian chung sống anh, chị chưa tạo dựng được tài sản gì chung. Nên khi ly hôn anh chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về công nợ chung: Tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chị Phạm Thị S và anh Bùi Hữu Th đều xác nhận trong thời gian chung sống anh, chị không vay mượn gì của ai và cũng không cho ai vay mượn gì. Nên anh, chị đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiền hành thông báo mở phiên họp, kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng anh Bùi Hữu Th đều vắng mặt và có đơn xin vắng mặt. Do vậy vụ án này Tòa án không tiến hành hòa giải được.
. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị S ly hôn với anh Bùi Hữu Th.
2.Về con chung: Xử giao cháu Bùi Gia B - Sinh ngày: 12/5/2013 cho chị Phạm Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho đến khi cháu Bùi Gia B trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Bùi Hữu Th không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Sau khi ly hôn, anh Bùi Hữu Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.
3.Về án phí: Chị Phạm Thị S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0002685 ngày 18/12/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.
Xác nhận chị Phạm Thị S đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường! hợp! bản!án! quyết! định! được! thi! hành! theo! qui! định! tại!Điều! 2! Luật!thi!hành!án!dân!sự!thì!người!được!thi!hành!án!dân!sự,!người!phải!thi!hành! án!dân!sự!có!quyền!thỏa!thuận!thi!hành!án,!tự!nguyện!thi!hành!án!hoặc!bị!cưỡng! chế!thi!hành!án!theo!qui!định!tại!các!Điều!6,!7,!7a!và!9!Luật!thi!hành!án!dân!sự;! thời!hiệu!thi!hành!án!được!thực!hiện!theo!qui!định!tại!Điều!30!Luật!thi!hành!án! dân!sự.!
| Nơi nhận -!TAND!tỉnh!Lào!Cai;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA! -!VKSND!tỉnh!Lào!Cai; -!VKSND!huyện!B; -!Chi!cục!THA!dân!sự!huyện!B;!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Đã ký -!UBND!xã!T,!huyện!B; -!Các!đương!sự!(2); -!Lưu!HS!–!TA!-!VP.!!!!!!!!!! | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Phạm Như Long |