- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn Y-H"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U an Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------------------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2021/HNGĐ-ST Ngày 06/12/2021 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Diệp Anh
Ông Nguyễn Văn Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 06/12/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2021/TLST-HNGĐ ngày 30/6/2021 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2021/QĐXX-ST ngày 26/10/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2021/QĐST-HNGĐ ngày 22/11/2021, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị PY; sinh năm:1963; ĐKHK: Hoàn Kiếm, Hà Nội; hiện ở tại: Ba Đình, Hà Nội.
* Bị đơn: Anh VH; sinh năm: 1962; ĐKHK và hiện ở tại: Hoàn Kiếm, Hà Nội;
(c m t chị Y, vắng m t anh H)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện; Bản lấy lời khai ngày 21/10/2021; biên bản không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 2 2 2 và ngày 2
2 2 ; nguyên đơn – chị PY trình bày:
- Về tình cảm: Tôi và anh VH tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 28/11/1991 tại Ủy an nhân dân phường G, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Khoảng năm 1993 anh H nghỉ việc theo chế độ, làm nghề tự do thu nhập ấp ênh, vợ chồng không chia sẻ được với nhau nên tình cảm phai nhạt dần. Anh H là người sống gia trưởng, rất khắt khe với vợ con, anh thường cư xử thô tục, thường xuyên đánh con, nhiều lần đánh vợ, rất hay n i tục, xỉ nhục vợ, con. Tôi làm nghề giáo viên nên thường xuyên nhường nhịn chồng, một mình ươn chải để lo cho hai con ăn học. Anh H đã không giúp đỡ vợ con lại còn hay kiếm cớ gây sự. Anh hay mang sự ực dọc dồn vào vợ con nên gây ức chế cho tôi và hai con. Tôi thực sự không thể chịu đựng n i và một phần cũng do tình cảm đã hết nên tôi muốn giải ph ng cho cả tôi và anh H. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2000 đến nay, tôi về nhà mẹ đẻ tại Ba Đình, Hà Nội cùng hai con, anh H vẫn ở tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội cùng ố mẹ anh. Trong thời gian vợ chồng ly thân, tôi một mình nuôi cả hai con nhưng anh H không đ ng g p, cấp dưỡng cho tôi. Đến nay do vợ chồng đã ly thân quá lâu, tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không thể duy trì được nữa, tôi đề nghị Tòa án cho tôi được ly hôn với anh VH để n định cuộc sống.
-Về con chung: chúng tôi có 02 con chung tên VS – sinh ngày 12/02/1992 và VK – sinh ngày 24/8/1996. Cả hai cháu đều đã trưởng thành.
-Về tài sản chung, nhà ở chung: chúng tôi không c nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
-Về công nợ chung: chúng tôi không nợ ai và không ai nợ chúng tôi nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Ngoài việc xin ly hôn anh H, tôi không c yêu cầu nào khác.
* Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ:
- Ngày 16/7/2021 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã lấy lời khai của à BL; sinh năm: 1940, trú tại: phường G, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội là mẹ đẻ của anh VH. Bà L cho iết: Chị Y và anh H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau năm 1991. Sau khi kết hôn anh chị sống cùng chúng tôi khoảng 10 năm, sau đ chị Y cùng 2 con về nhà mẹ đẻ ở, còn anh H vẫn sống cùng chúng tôi. Anh chị c 2 con chung đều đã trưởng thành. Về tài sản chung, nhà ở chung: anh chị không c gì, thời gian anh chị sống cùng vợ chồng tôi không c đ ng g p xây sửa gì. Kinh tế anh chị độc lập không liên quan gì đến chúng tôi.
Nay chị Y xin ly hôn anh H, đây là việc tình cảm của anh chị, anh chị tự quyết định, chúng tôi không c ý kiến gì và Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại iên ản xác minh tình trạng hôn nhân của chị PY và anh VH tại phường G, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ngày 16/7/2021, ông Nguyễn Việt A – T trưởng t dân phố xác nhận anh VH hiện đang ở tại địa chỉ phố T, phường G, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Quá trình chị Y và anh H sống tại đây thời gian đầu ban ngày anh chị đi làm nên ít khi g p anh chị, sau này chị Y và hai con về nhà mẹ đẻ chị Y ở. M c dù ly thân nhưng chị Y vẫn đi về phố T để làm tròn n phận của người con dâu. Nay Tòa án đến xác minh tình trạng hôn nhân của anh chị thì t dân phố đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Nếu chị Y vẫn cương quyết xin ly hôn thì Tòa án xem xét theo nguyện vọng của chị Y, việc ly hôn là ý nguyện của anh chị, tòa án giải quyết theo pháp luật. Anh chị có 02 con chung, các cháu đều đã trưởng thành. Về tài sản chung của anh chị tôi không nắm được. Ngoài ra ông Nguyễn Việt A không cung cấp gì thêm.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị PY vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh VH; về con chung anh chị c 02 con chung là VS - sinh ngày 12/02/1992 và VK - sinh ngày 24/8/1996, cả hai cháu đều đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.
Về tài sản, nhà đất ở chung, công nợ chung: Chị Y khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh VH vắng m t tại phiên tòa.
* Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội phát iểu ý kiến về việc tuân theo Pháp luật Tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án như sau:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu; các đương sự chấp hành yêu cầu của Tòa án về việc giao nộp chứng cứ.
- Nguyên đơn c m t; Bị đơn vắng m t trong suốt quá trình Tòa án giải quyết việc ly hôn, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn ản tố tụng đối với ị đơn theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 21, 28, 35, 39 ,147, 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Xử:
-Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị PY và anh VH.
-Về con chung: anh chị có 02 con chung là VS – sinh ngày 12/02/1992 và VK – sinh ngày 24/8/1996. Cả hai cháu đều đã trưởng thành nên không xét.
-Về tài sản chung (động sản và ất động sản): chị Y khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
-Về công nợ chung: Chị Y khai anh chị không nợ ai và không cho ai vay nợ nên không xem xét.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Y phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu c trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định:
1 Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Chị PY có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn đối với anh VH. Đây là vụ án tranh chấp ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh VH cư trú tại phố T, phường G, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
- Về trình tự tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn ản tố tụng của Tòa án cho các đương sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị PY c m t. Bị đơn là anh VH vắng m t. Đối với anh H, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn ản tố tụng của Tòa án từ giai đoạn Thông áo thụ lý vụ án; Giấy áo đến Tòa án; Thông áo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải (2 lần); Quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, song anh H vẫn vắng m t không lý do. Việc anh H không đến Tòa án để giải quyết điều đ chứng tỏ anh H đã cố tình gây kh khăn cho chị Y trong việc ly hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng m t đối với ị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
- Về tình cảm: Chị Y và anh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, c đăng ký kết hôn tại Ủy an nhân dân phường Hàng G ngày 28/11/1991 là hợp pháp.
Quá trình chung sống chị Y và anh H chỉ hòa thuận được thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H không chia sẻ trách nhiệm với chị Y, vợ chồng không c tiếng n i chung, anh H không chu cấp tiền cho chị Y nuôi con và sinh hoạt trong gia đình, m t khác anh H không hỗ trợ gì trong việc chăm lo cho con, nuôi dạy con và ph m c chị Y một mình trong việc nuôi dạy con trong suốt một thời gian dài. Anh chị đã sống ly thân hơn 20 năm nay. Do mâu thuẫn như vậy nên việc chị Y làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh H để n định cuộc sống.
Héi ®ång xÐt xö xÐt thÊy, h«n nh©n tån t¹i ph¶i trªn c¬ së t×nh c¶m tù nguyÖn cña c¶ hai bªn, kh«ng v× bÊt cø môc ®Ých nµo kh¸c. Thùc tÕ h«n nh©n anh chÞ ®· không tồn tại từ năm 2000 khi anh chÞ sèng ly th©n cho ®Õn nay, mçi ng êi sèng mét n¬i kh«ng còn quan t©m ®Õn nhau nữa.
Trong thời gian ly thân, mỗi người đều đã chuyển về nhà ố mẹ đẻ để ở, không liên lạc với nhau nên không đưa ra được iện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng, do vậy chị Y cương quyết xin ly hôn để n định cuộc sống. Do cuéc sèng chung vî chång gi÷a chị Y và anh H kh«ng thÓ kÐo dµi, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc nªn viÖc chị Y yêu cầu được ly hôn với anh H là c căn cứ, phù hợp thực tế và phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cần được chấp nhận.
- Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là VS; sinh ngày 12/02/1991 (nam) và VK; sinh ngày 24/8/1996 (nam), các cháu đều đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản, nhà đất ở chung: Chị Y khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về công nợ chung: Chị Y khai không nợ ai, không ai nợ anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3 Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U an Thường vụ Quốc hội;
Chị Y phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Các điều 51, 53, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Điều 28, 35, 39, 147, 192, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U an Thường vụ Quốc hội. Xử: 1.Về quan hệ hôn nhân: Chị PY được ly hôn anh VH.
2.Về con chung: Xác nhận chị Y và anh H có 02 con chung là: VS; sinh ngày 12/02/1991 (giới tính nam) và VK; sinh ngày 24/8/1996 (giới tính nam), các cháu đều đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
3.VÒ tµi s¶n chung: (gåm ®éng s¶n vµ bÊt ®éng s¶n): Chị Y khai kh«ng có, không yªu cÇu gi¶i quyÕt, nªn Toµ ¸n kh«ng xÐt.
4.VÒ công nî chung: Chị Y khai anh chị không nợ ai và không ai vay nợ anh chị, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa ¸n kh«ng xÐt.
5.Về án phí: Chị PY phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0051177 ngày 30/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Chị Y được quyền kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Anh H vắng m t tại phiên tòa được quyền kháng ản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được ản án ho c kể từ ngày ản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm; - UBND phường Hàng Gai; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Thanh Bình |