vanban.org

Bản án 23/2021/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn C.

Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Văn C tiền thuốc điều trị và tiền tàu xe đi lại là 2.914.000 đồng (Trong đó tiền thuốc điều trị là 2.274.000 đồng; tiền tàu xe đi lại 640.000 đồng). Về nghĩa vụ chậm trả: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Trần Văn C "Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng" Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAN TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LG A
Bản án số: 23/2021/DS-ST
Ngày: 21-05-2021
Về việc “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAN TH -TỈNH LG A

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn D.

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Ngô Khắc T.

2/ Ông Nguyễn Vĩnh L.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiếu Ly- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tan Th, tỉnh Lg A.

Đại diện Viện Kiểm Sát tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim TH - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 21 tháng 05 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tan Th xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2020/TLST-DS ngày 31 tháng 12 năm 2020 về việc “Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” THo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2021/QĐXX-ST ngày 17 tháng 03 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số:12/2021/QĐST-DS ngày 29 tháng 04 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm: 1956 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Tân Long, xã NN, huyện Tan Th, tỉnh Lg A.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984;

Địa chỉ: Ấp Tân Long, xã NN, huyện Tan Th, tỉnh Lg A.

Người đại diện THo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T: Bà Âu Thị Á, sinh năm: 1963. Địa chỉ: Ấp Tân Long, xã NN, huyện Tan Th, tỉnh Lg A (có mặt).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1 Ông Trần Văn Ch, sinh năm: 1968 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Tân Long, xã NN, huyện Tan Th, tỉnh Lg A.

3.2 Ông Âu Văn Th, sinh năm: 1998 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Tân Long, xã NN, huyện Tan Th, tỉnh Lg A.

3.3 Bà Âu Thị L, sinh năm: 1972 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp Tân Long, xã NN, huyện Tan Th, tỉnh Lg A.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Trần Văn C trình bày: Trưa ngày 09 tháng 11 năm 2018 tôi có đến chòi của ông Chín Manh uống rượu trong lúc đó ông Phạm Văn Bình là rể của bà Âu Thị L cũng là cháu rể kêu tôi bằng ông đang tưới mít. Thì ông Chín Manh có kêu ông Bình vô nhậu và có nói “Vô nhậu mày ơi không vô tao nhổ mít mày à”, tôi cũng có nói như ông Chín Manh với ông Bình thì ông Bình chửi tôi và tay cầm cái gào múc nước đi thẳng về phía tôi, để đÁ tôi nhưng có ông Chín Manh ngăn lại. Thấy sự việc như vậy tôi bỏ về nhà nhưng do có rượu và thấy ông Bình là cháu mà hỗn với tôi như vậy nên tôi có lên tiếng chửi ông Bình. Sau đó thì bà Âu Thị L có kêu người nhà của bà là ông Trần Văn Ch, ông Âu Văn Th, ông Nguyễn Văn T tràn vào nhà tôi đÁ tôi. Ông T dùng cây tràm to bằng cổ chân đường kính 0,5m dài khoảng 1,4m đÁ vào cạnh hàm, vào cổ tay và vào vai tôi làm tôi bị thương. Sau đó ông T còn cầm cây liềm bàng kề vào cổ để giết tôi, nhờ ông phó ấp can ngăn kịp thời nên T dừng lại. Ông T còn dùng vỏ chai bia ném vào cửa cái nhà tôi làm bể cửa nhà tôi. Hôm sau tôi đi khám bệnh tại bệnh viện tư nhân ở xã Hậu Mỹ Bắc A và có cho thuốc uống, tiếp ngày sau đó do tôi còn thấy đau nên lên Thành phố khám tại bệnh viện Chấn thương chỉnh hình khám và chụp hình. Bệnh viện chấn thương chỉnh hình chuyển tôi quan bệnh viện Quốc tế nhập viện 2-3 ngày sau đó chuyển qua bệnh viện Chợ Rẩy mổ mạch cảnh.

Hiện nay tôi yêu cầu ông Nguyễn Văn T bồi thường tiền khám điều trị bệnh và xe đi lại là 33.210.000 đồng (Trong đó Tiền thuốc men điều trị là 16.930.000 đồng; Tiền tàu xe 3.280.000 đồng; Tiến ăn uống trong thời gian điều trị là 10.000.000 đồng; Tiền công lao động 15 ngày mỗi ngày 200.000 đồng thành tiền là 3.000.000 đồng); Tiền bồi thường tài sản bị thiệt hại là 2.500.000 đồng.

Người đại diện THo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn T là bà Âu Thị Á trình bày: Vào ngày 03/10 (AL) năm 2018 vào lúc 06 giờ 30 phút cùng ngày ông Phạm Văn Bình có ra ngoại ông T ăn đám giỗ sau đó thì đưa con về hứa sẽ trở ra nhưng sau đó lâu quá không thấy ra nên ông T có điện thoại cho Bình thì vợ của ông Bình bắt máy và nói “Vợ chồng ông Trần Trọng Nhân lấy mấy cưa cây ra trước lộ đòi cắt chồng em” nên ông Bình không dám ra, ông T nghe vậy nên mới chạy vô hỏi cho ra chuyện. Khi ông T vô thì thấy vợ chồng ông Nhân tay cầm dao, do nổi nóng nên ông T mới lấy vỏ chai bia tại nhà ông Nhân chọi vào cửa ông C và bà Âu Thị L kéo ông T về nhưng do nóng giận nên ông T có trở lại nhà ông Nhân. Ông T vừa bước vào tới cửa thì vợ ông Nhân là bà Nguyễn Thị Tuyền nhảy ra đÁ và chém vào vai của ông T rách áo và chảy máu. Do lúc đó tình hình hỗn loạn nên trưởng ấp mới kéo ông T ra lộ và ông T lên xe về ông T không có đÁ ông Trần Văn C. Sau khi sự việc xảy ra khoảng một tuần thì ông T có vào nhà ông C để xin lỗi vì lỡ nóng làm bể cửa kiếng thì ông T sẽ bồi thường của kiếng. Ông T thấy ông C vẫn khỏe mạnh và đi làm bình thường đến ngày 22/10/2018 thì mới nhập viện.

Ông T hiện nay không đồng ý bồi thường cho ông C số tiền thuốc điều trị tại bệnh và tiền tàu xe đi lại là 33.210.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:

Ông Trần Văn Ch trình bày: Sự việc xảy ra giữa ông Nguyễn Văn T với ông Trần Văn C tôi không có mặt nên tôi không có biết sự việc này.

Bà Âu Thị L trình bày: Khi cháu tôi là ông Nguyễn Văn T có chạy qua nhà ông Nhân và ông C tôi thấy bà Tuyền cầm con dao, tôi sợ nên mới cầm cái ghế có sẵn tại nhà ông C chọi bà Tuyền và kéo cháu tôi là ông T về. Tôi có hỏi ông T thì ông T nói bị vợ ông Nhân bà Tuyền chém rách áo và chảy máu ở phần vai và lúc đó công an và chính quyền quyền địa phương chứng kiến sự việc nên tôi bỏ ra về. Còn sự việc ông C và ông T đÁ nhau thì tôi không biết.

Đại diện viện kiểm sát nhân huyện Tan Th phát biểu vụ án:

1. Việc tuân THo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

* Việc tuân THo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

- Quan hệ tranh chấp: Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án THo các quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 BLTTDS.

- Thời gian chuẩn bị xét xử: Đảm bảo quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử THo quy định Điều 203 BLTTDS năm 2015.

- Các thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đảm bảo đúng THo quy định tại chương X BLTTDS.

- Tư cách của đương sự: Việc xác định tư cách đương sự trong vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS.

- Việc thu thập chứng cứ: Thẩm phán tiến hành thu thập chứng cứ đúng THo quy định tại Điều 97 BLTTDS 2015.

- Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định tại các Điều 94, 95, 96, 97, 109, 208 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Việc tuân THo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:

Nhận thấy, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân THo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án, đảm bảo các nguyên tắc xét xử.

+ Tại phiên tòa hôm nay về thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo THo quy định những người tham gia phiên tòa đảm bảo đúng quy định.

+ Thủ tục bắt đầu phiên tòa đảm bảo THo quy định BLTTDS. Quá trình tranh tụng tại phiên tòa đảm bảo công khai dân chủ và được tiến hành THo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Nội dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa đảm bảo quy định tại Điều 247 BLTTDS.

2. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

+ Nguyên đơn: Chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình THo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS năm 2015.

+ Bị đơn: Chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình THo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS năm 2015.

+Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình THo quy định tại Điều 70, 73 BLTTDS năm 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào các 584, 585, 586, 588, 590 Bộ luật dân sự 2015;

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Vụ kiện Tranh chấp “ Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” giữa ông Trần Văn C nguyên đơn với ông Nguyễn Văn T bị đơn. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là thuộc thẩm quyền giải quyết THo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tan Th, tỉnh Lg A.

Tại phiên tòa hôm nay ông Trần Văn C không rút đơn khởi kiện, thay thay đổi yêu cầu. Ông C tiếp tục yêu cầu ông T bồi thường cho cho ông số tiền thuốc men điều trị là 16.930.000 đồng; Tiền tàu xe 3.280.000 đồng; Tiến ăn uống trong thời gian điều trị là 2.200.000 đồng ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Người đại diện THo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T xác định không có trực tiếp đÁ ông C mà đÁ ông Đen nhưng C có đưa tay lên đở nên có trúng vào tay của ông C nên ông T không đồng ý bồi thường THo yêu cầu của ông C.

Nội dung vụ kiện:

Trưa ngày 09 tháng 11 năm 2018 ông C có đến chòi của ông Chín Manh nhậu trong lúc đó ông Phạm Văn Bình là rễ của bà Âu Thị L cũng là cháu rể kêu ông C bằng ông đang tưới mít. Thì ông Chín Manh có kêu ông Bình vô nhậu và có nói “Vô nhậu mày ơi không vô tao nhổ mít mày à”, ông C cũng có nói như ông Chín Manh với ông Bình thì ông Bình chửi ông C và tay cầm cái gào múc nước đi thẳng về phía ông C định đÁ nhưng có ông Chín Manh ngăn lại. Thấy sự việc như vậy ông C bỏ về nhà nhưng do có rượu và thấy ông Bình là cháu mà hỗn với ông như vậy nên C có lên tiếng chửi ông Bình.

Sau đó thì bà Âu Thị L có kêu người nhà của bà là ông Trần Văn Ch, ông Âu Văn Th, ông Âu Văn T tràn vào nhà ông C gây sự. Ông T dùng cây tràm mục đÁ ông Đen (Trần Trọng Nhân) con ông C không trúng nên trúng vào tay ông C làm cây tràm gãy đôi. Đến ngày 28-11-2018 ông đến bệnh viện Quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh khám và điều trị.

THo phiếu thanh toán ra viện ngày 28-11-2018 thì xác định thời gian nhập viện của ông C là 1 ngày. Chuẩn đoán bệnh lý của ông C “Phình động mạch chủ bụng ; BLOCK nhĩ thất độ II, nhồi máu não bán cầu phải ngày 06, hẹp nặng động cảnh chung, cảnh trong phải 85% tăng huyết áp”

Tại phiên tòa hôm nay ông C khẳng định rằng thương tích của ông là do ông Nguyễn Văn T gây ra. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn T khẳng định rằng thương tích của ông C ông không phải là người trực tiếp gây ra. Nhưng tại biên bản ghi lời khai của Công an huyện Tan Th thì ông T có dùng cây đÁ trúng tay ông C làm cây gãy làm đôi và có dùng dao kề vào cổ ông Mười C. Điều này cho thấy một phần thương tích của ông Trần Văn C là do ông T gây ra cho nên buộc ông T phải chịu bồi thường một phần yêu cầu của ông C là hợp lý.

THo kết quả giám định thương tật của ông Trần Văn C xác định tỷ lệ thương tật của ông Trần Văn C là 02%. Qua đối chiếu và xem xét các chứng cứ thể hiện trong hồ sơ thể hiện: Ngày xảy ra xô xác là ngày 09-11-2018 đến ngày 13-11-2018 ông C có đến Bệnh Viện khu vực xã Hậu Mỹ Bắc A khám và điều trị tại đây tiền thuốc điều trị; tiền khám và tiền chụp XQ tổng cộng số tiền là 211.000 đồng; Tiền khám tại Bệnh Viện Chấn Thương Chỉnh hình tại Thành phố Hồ Chí Minh với số tiền là 2.063.000 đồng; Tiền xe đi từ xã NN đến Thành phố Hồ Chí Minh bốn lượt 80.000 đồng x 4lượt x 2 người thành tiền là 640.000 đồng. Tổng cộng các khoản là 2.914.000 đồng. THo kết quả giám định thương tích của ông C và lời trình của ông T như nêu ở phần trên thì phần thương tích của ông C là do ông T dùng cây quơ trúng nên ông T phải có trách nhiệm bồi thường cho ông C số tiền trên là hợp lý nên chấp nhận yêu cầu này của ông C.

Tại công văn số 219/BVCR-KHTH ngày 01-02-2019 của Bệnh viện chợ Rẫy xác nhận của Bác chuyên khoa tim mạch thì bệnh lý “Hẹp động mạch cảnh trong, phình động mạch chủ bụng thường do diễn biến tự nhiên THo thời gian”, phiếu bán thuốc của Bệnh Viện Quốc Tế ngày 26-11-2018 cũng chuẩn đoán ông C bị nhồi máu não bán cầu phải/ tăng huyết áp.

Đối với phần điều trị của ông Trần Văn C điều trị tại Phòng khám Hậu Mỹ Bắc A ngày 24-11-2018; Bệnh Viện chợ Rẫy; Bệnh Viện Ngoại thần Kinh Quốc Tế tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Tiền thuốc điều trị là 14.016.000 đồng; Tiền tàu xe 2.640.000 đồng; Tiến ăn uống trong thời gian điều trị là 2.200.000 đồng. THo kết quả chuẩn đoán và điều trị các chứng bệnh: “Phình động mạch chủ bụng ; BLOCK nhĩ thất độ II, nhồi máu não bán cầu phải ngày 06, hẹp nặng động cảnh chung, cảnh trong phải 85% tăng huyết áp” thường do diễn biến tự nhiên THo thời gian không phải do tác động bên ngoài gây ra. Như vậy, nguyên nhân không phải là do ông Nguyễn Thanh T gây ra nên ông C yêu cầu ông T bồi thường tiến thuốc điều trị, tiền tàu xe, tiền ăn uống tổng số tiền là 18.856.000 đồng là không có cơ sở nên không chấp nhận yêu cầu này của ông C.

Bà Nguyễn Thị Tuyền là người nuôi bệnh cho ông Trần Văn C không yêu cầu tính tiền công lao động trong thời gian nuôi bệnh nên không xem xét.

Từ những nhận định trên chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn C. Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Văn C tiền thuốc điều trị và tiền tàu xe đi lại là 2.914.000 đồng.

Bác yêu cầu của ông Trần Văn C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T bồi thường tiến thuốc điều trị, tiền tàu xe, tiền ăn uống tổng số tiền là 18.856.000đồng.

Đối với phần ông Trần Văn C yêu cầu bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền là 2.500.000 đồng. Khi tiến hành thụ lý giải quyết vụ án hai bên đã tự nguyện bồi thường xong, ông C không yêu cầu nên không xem xét yêu cầu này.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng, Ông C không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Áp dụng Điều 357, 584, 585, 590 Bộ luật dân sự 2015

Áp dụng điểm đ khoàn 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Trần Văn C.

Buộc ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Văn C tiền thuốc điều trị và tiền tàu xe đi lại là 2.914.000 đồng (Trong đó tiền thuốc điều trị là 2.274.000 đồng; tiền tàu xe đi lại 640.000 đồng).

2. Về nghĩa vụ chậm trả: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án THo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015

3. Bác yêu cầu của ông Trần Văn C về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn T bồi thường tiến thuốc điều trị, tiền tàu xe, tiền ăn uống tổng số tiền là 18.856.000 đồng.

4. Về Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng đồng; Ông Trần Văn C không phải chịu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành THo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án THo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện THo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các bên được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ