- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Hoài Tr - Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đinh Hoài Tr 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HS-ST Ngày 08 tháng 6 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: - Nguyễn Lơn
- Lê Văn Chuyển
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Kim Kúc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Triệu Hoàng Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2020/HSST-QĐ ngày 21 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Đinh Hoài Tr, sinh năm 1994, tại: Thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn S, xã N1, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hoài Ng, sinh năm 1960 và bà Trần Thị T, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1993; có 02 con sinh năm 2015 và 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Diễm Th
Địa chỉ: Thôn 4, xã N2, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Đỗ Thị T2, địa chỉ: Thôn 4, xã N2, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
+ Ông Võ Văn L, địa chỉ: Thôn S, xã N1, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
+ Ông Bùi Văn H, địa chỉ: Thôn 4, xã N2, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Bà Bùi Thị H1, địa chỉ: Thôn 4, xã N2, thị xã Ninh Hòa, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
+ Bà Trần Thị T3, địa chỉ: Đội 3, thôn Sơn Lộc, xã N1, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
+ Ông Nguyễn Duy T4, địa chỉ: Thôn 2, xã N2, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
+ Ông Phan Ngọc Đ, địa chỉ: Thôn 4, xã N2, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị T5, địa chỉ: Thôn S, xã N1, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2019, Tr đi cùng 02 thanh niên tên T6, Q (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến nhà ông H ở thôn 4, xã N2, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa để đòi tiền nợ. Khi đến nơi, Tr, T6, Q gặp vợ ông H là bà Nguyễn Thị Diễm Th đang ở nhà. Tr yêu cầu bà Th trả trước số tiền 5.000.000 đồng như đã hẹn trước đó nhưng bà Th nói không có tiền và tiếp tục hẹn. Lúc này, Tr lớn tiếng chửi thề, nắm tay lại thành nắm đấm dọa đánh bà Th nếu không trả tiền. Bà Th tiếp tục xin hẹn nợ thì Tr nói không có tiền thì lấy xe. Sau đó, Tr đến nơi xe mô tô hiệu Angel biển số 79N9-xxxx của gia đình bà Th đang dựng trước sân, dùng chìa khóa của mình mở được khóa xe, nổ máy rồi cùng T6, Q đem xe đi. Bà Th không dám ngăn cản vì sợ hãi. Khi đã đưa xe về nhà cất giữ, Tr gọi điện thoại cho bà Th nói khi nào có tiền thì đem đến trả nợ để lấy xe về. Sau khi sự việc xẩy ra, bà Th đến Công an xã N2 trình báo. Đến tối cùng ngày thì bà Trần Thị Tuyết là mẹ ruột của Tr tìm thấy xe mô tô biển số 79N9-xxxx và đem giao nộp cho Công an thị xã Ninh Hòa.
Tại Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐG ngày 23/03/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã N kết luận giá trị xe mô tô hiệu Angel biển số 79N9-xxxx là 2.625.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKS-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố bị cáo Đinh Hoài Tr về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.
Đối với các đối tượng tên T6, Q, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều ra, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Hoài Tr, xử phạt bị cáo Đinh Hoài Tr từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Chiếc xe mô tô hiệu Angel biển số 79N9-xxxx đã được Cơ quan cảnh sát điều tra xử lý trong quá trình điều tra nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bị cáo Đinh Hoài Tr khai nhận đã thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và một số người làm chứng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ninh Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, Kiểm sát viên đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Hoài Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 17 giờ ngày 14 tháng 02 năm 2019, tại nhà bà Nguyễn Thị Diễm Th ở thôn 4, xã N2, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Đinh Hoài Tr đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực uy hiếp tinh thần bà Nguyễn Thị Diễm Th và chiếm đoạt xe mô tô hiệu Angel, biển số 79N9-xxxx của gia đình bà Th nhằm ép buộc bà Th phải trả nợ cho bị cáo.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản, sức khỏe của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi uy hiếp tinh thần chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, bị cáo Tr thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, chưa có tiền án, tiền sự.
Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi xem xét mức hình phạt cho bị cáo.
Ngoài ra, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Chiếc xe mô tô hiệu Angel, biển số 79N9-xxxx đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 170; điểm b, h, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Hoài Tr;
Căn cứ Điều 136, 268, 269, 292, 293, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Xử phạt bị cáo Đinh Hoài Tr 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 08 tháng 6 năm 2020).
Giao bị cáo Đinh Hoài Tr cho Ủy ban nhân dân xã N1, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đinh Hoài Tr có trách nhiệm phối hợp với xã N1, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về vật chứng: Chiếc xe mô tô hiệu Angel, biển số 79N9-xxxx đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra xử lý trong quá trình điều tra nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Bị cáo Đinh Hoài Tr phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Tx Ninh Hòa; - Cơ quan CSĐT - Công an Tx Ninh Hòa; - Chi cục THADS Tx N; - UBND xã N1; - Bị cáo; người TGTT khác; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Quỳnh Trang |