vanban.org

Bản án 23/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 17/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Lê Văn T phạm tội"Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 và 2 điều 51, điểm h, điểm g khản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn T 30 (Ba mươi ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28/04/2020 . Về trách nhiệm dân sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T phạm tội"Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Lê Văn T phạm tội"Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? luật tố tụng hình sự truy thu ở T; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN THIỆU HOÁ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HSST
Ngày 17/08/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THIỆU HOÁ, TỈNH THANH HÓA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Hà Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Lâm và ông Lê Minh Nhân. Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Quy, Thư ký Toà án Thiệu Hóa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2020 mở phiên toà công khai tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 22/2020TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020, đối với bị cáo:

Lê Văn T, Tên gọi khác: Không, Giới tính: Nam; Sinh ngày 22 tháng 9 năm 1994 tại Thôn T T, xã Thiệu T, Thiệu Hóa, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn T T, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12 Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lê Văn N sinh năm 1969, Con bà: Đặng Thị H sinh năm 1971. Chưa vợ con.

Tiền án: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, ngày 10/8/2019 đã chấp hành án xong hình phạt

Tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 28/04/2020 đến ngày 07/05/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại trai tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa.

Người bị hại:

Bà Dương Thị L, sinh ngày 03/9/1969. Trú tại: Thôn T Thắng, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

1/Chị Lê Thị M sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn T T, xã Thiệu T huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

2/ Bà Lê Thị H, sinh năm 1968. Địa chỉ: thôn T Thắng, xã Thiệu T huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa

3/ Anh Nguyễn Công C, sinh năm 1992. Địa chỉ: thôn Dân sinh xã Thiệu C, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 16/04/2020, Lê Văn T sinh năm 1994 ở Thôn

T T, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa đi bộ một mình (Cầm theo chiếc kìm có cán màu vàng) đến nhà bà Dương Thị L sinh năm 1969 ở Thôn T Thắng, xã Thiệu T, Thiệu Hóa với mục đích trộm cắp tài sản. T đi đến cổng sau nhà bà L, luồn 02 ngón tay qua khe hở cửa gỗ cài then chốt bằng sắt rồi nạy chốt sắt cho đến khi chốt bật ra. T vào bên trong nhà bà L, thấy có 01 máy bơm nước ở sát hông nhà, T rút phích cắm và tháo đường ống dẫn nước của máy bơm ra, xách máy bơm để ở lối cổng sau nơi T đột nhập vào. Sau đó T quay lại dắt chiếc xe đạp Thống Nhất (đang dựng ở trước sân ra lối cổng sau) để gần máy bơm đã lấy trước đó. Thấy cửa gỗ phía hông nhà không khóa T đẩy cửa lẻn vào bên trong gian nhà C ở tầng 1, T tháo các dây nối và phích cắm của chiếc ti vi màn hình phẳng nhãn hiệu LG 32 inch ở góc tường gần cửa ra vào rồi mang ti vi để phía cổng sau. T tiếp tục quay lại dùng chiếc kìm mang theo vặn các ốc vít ở gầm tủ lạnh để lấy 01 cục lạnh màu đen của tủ lạnh (bờlốc tủ lạnh). Tiếp theo T đi vào trong phòng ngủ tầng 1 lấy 01 cân đồng hồ màu xanh, nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 100kg. T mang cân đồng hồ và cục lạnh ra lối cổng sau rồi khép cổng lại. T mang các tài sản trộm cắp được bao gồm: 1 máy bơm nước, 01 xe đạp thống nhất, 01 ti vi màn hình phẳng nhãn hiệu LG 32 inch, 01 cục lạnh, 01 cân đồng hồ ra cất giấu ở bờ đất giữa hai ruộng lúa cách nhà bà L khoảng 50m. sau đó T liên hệ với một người bạn tên là Tuấn ở xã Thọ Nguyên( nay là xã Xuân Hồng), huyện Thọ Xuân để nhờ tiêu thụ tài sản, Tuấn hẹn T ở cổng làng thôn T Thắng, sau đó Tuấn đi xe máy waves màu đỏ đến và mang chiếc ti vi đi bán giúp T, bán được với giá 500.000đ( Năm trăm nghìn đồng) Tuấn quay lại đưa toàn bộ số tiền cho T rồi bỏ đi. T quay lại chỗ cất giấu đồ xách chiếc máy bơm đi về giấu ở bụi rậm gần nhà mình. Sáng ngày 17/04/2020 T bán máy bơm nước cho một người phụ nữ thu mua sắt vụn được 50.000đ( năm mươi nghìn đồng). Đến 20 giờ ngày 17/04/2020, T đi bộ quay lại chỗ cất giấu đồ từ tối hôm trước, cho cục lạnh vào giỏ xe đạp Thống Nhất và điều khiển xe đến nơi thu mua phế liệu nhà bà Lê Thị H, sinh năm 1968 ở Thôn T Thắng, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa, T bán chiếc xe đạp và cục lạnh cho bà H với giá 200.000đ( Hai trăm nghìn đồng). Khi mua bán T nói đây là xe đạp của T, bà H có viết một giấy tờ mua bán chiếc xe đạp với T, T đã ký vào tờ giấy đó. Sau đó T tiếp tục quay lại lấy cân đồng hồ đến bán cho bà Lê Thị M, sinh năm 1982 ở Thôn T T, xã Thiệu T, Thiệu Hóa, Thanh Hóa với giá 200.000đ( Hai trăm nghìn đồng). Đến khoảng 20 giờ ngày 18/04/2020, T lại đi bộ đến nhà bà L để trộm cắp tài sản. T cũng đột nhập vào nhà bà L từ lối cổng sau vào bên trong nhà, thấy ở cạnh lối vào phòng ngủ ở tầng 1 có 01 bình ga gắn với bếp ga, T vặn gioăng bình ga và xách chiếc bình ga ra lối cổng sau rồi quay lại lên tầng 2, rút phích cắm khỏi ổ và lấy 01 quạt cây màu đen và dùng tay đỡ khỏi giá đỡ lấy 01 quạt treo tường, sau đó mang 02 quạt này xuống tầng 1. T dùng tay nâng khỏi giá đỡ lấy 03 quạt treo tường ở phòng ngủ, phòng khách và hành lang tầng 1. T mang 05 quạt này ra để ở lối cổng sau. Tiếp theo đó T rút phích cắm và vác máy lọc nước màu xanh đen đang ở sát tường đối diện cửa hông nhà bà L đem đi cất giấu. Với 04 quạt treo tường và 01 máy lọc nước thì T cất giấu ở các lối đường đi giữa các ruộng lúa gần nhà bà L. Còn lại 01 quạt cây và bình ga thì ngay sau đó T liên hệ với Tuấn, Tuấn đi xe wave màu đỏ chở T đi bán tại vựa sắt vụn xã Thọ Nguyên( nay là xã Xuân Hồng), huyện Thọ Xuân được 115.000đ( Một trăm mười lăm nghìn đồng). Sau khi bán được quạt cây và bình ga T quay lại mang 04 quạt treo tường về nhà còn máy lọc nước vẫn để ở bờ ruộng lúa. Sáng ngày 19/04/2020, T bán 04 quạt treo tường cho một người phụ nữ thu mua đồng nát được 60.000đ( Sáu mươi nghìn đồng). Đến tối ngày 21/04/2020, T đi xe đạp của gia đình quay lại chỗ giấu chiếc máy lọc nước rồi chở máy lọc nước đến nhà anh Nguyễn Công C, sinh năm 1992 ở Thôn Dân Sinh, xã Thiệu C. T nói với anh C là máy lọc nước của gia đình bị hỏng nên đem đi bán, sau khi xem qua thì anh C đồng ý mua với giá 200.000đ( hai trăm nghìn đồng). Số tiền thu được từ việc bán các tài sản trộm cắp được của nhà bà L T đã sử dụng toàn bộ vào việc tiêu dung cá nhân.

Biết không thể che giấu hành vi trộm cắp tài sản của mình, Ngày 28/04/2020 Lê Văn T đã đến Công an xã Thiệu T đầu thú khai báo toàn bộ nội dung diễn biến về hành vi trộm cắp tài sản của mình tại nhà bà L .

Ngày 03/05/2020 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thiệu Hóa đã ra yêu cầu định giá tài sản số 377/YC-ĐCSHS, tại biên bản kết L định giá số 11/2020/HĐ-ĐGTS ngày 04/5/2020 của hội đồng định giá tài sản UBND huyện Thiệu Hóa kết L: -

Xe đạp thống nhất trị giá: 750.000đ -

Máy lọc nước nhãn hiệu TURBO trị giá: 1.500.000đ -

Bình ga Tân thành trị giá: 150.000đ -

Máy bơm nước cá sấu trị giá : 500.000đ -

Ti vi nhãn hiệu LG 32 inch trị giá : 850.000đ -

Quạt cây điện cơ 91 trị giá : 50.000đ -

Loa kéo trị giá : 350.000đ

Ngày 19/05/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thiệu Hóa ra quyết định yêu cầu định giá tài sản số 433/YC-ĐCSHS, theo biên bản kết L định giá số 14/2020/HĐ-ĐGTS ngày 21/5/2020 của hội đồng định giá tài sản UBND huyện Thiệu Hóa kết L:

- Cân đồng hồ nhãn hiệu NHƠN HÒA trị giá thiệt hại: 500.000đ

- Cục lạnh( Tủ lạnh) trị giá : 300.000đ

- Quạt treo tường 04 cái trị giá: 480.000đ

- Quá trình điều tra căn cứ 02 bản kết L định giá trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thiệu Hóa xác định:

Ngày 16/04/2020 Lê Văn T trộm cắp số tài sản nhà bà L gồm, 1 máy bơm nước, 01 xe đạp thống nhất, 01 ti vi màn hình phẳng nhãn hiệu LG 32 inch, 01 cục lạnh, 01 cân đồng hồ, tổng giá trị tài sản là 2.900.000đ( hai triệu chin trăm nghìn đồng).

Ngày 18/04/2020 Lê Văn T trộm cắp số tài sản nhà bà L gồm, 01 quạt cây, 04 quạt treo tường, 01 bình ga, 01 máy lọc nước. Tổng giá trị tài sản là 2.180.000đ ( Hai triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).

Đối với tài sản là chiếc loa kéo mà bà L khai báo bị mất trộm, Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xác định Lê Văn T trộm cắp tài sản nên tiếp tục điều tra mở rộng.

Như vậy tông giá trị tài sản T trộm cắp của gia đình bà L là : 5.080.000đ( Năm triệu không trăm, tám mươi ngàn đồng).

Về phía bị hại

Gia đình bà Dương Thị L trình báo việc mất tài sản gồm: Xe đạp thống nhất, Máy lọc nước nhãn hiệu TURBO, bình ga Tân thành, máy bơm nước cá sấu, Ti vi nhãn hiệu LG 32 inch, quạt cây điện cơ 91, Loa kéo, Cân đồng hồ nhãn hiệu NHƠN HÒA,Cục lạnh(Blốc Tủ lạnh), Quạt treo tường 04 cái

Bà L đã được nhận lại: 01 xe đạp thống nhất, 01 máy lọc nước nhãn hiệu TURBO, 01 cân đồng hồ nhãn hiệu NHƠN HÒA, 01 cục lạnh(Blốc tủ lạnh).

Đối với các tài sản là : 01 bình ga màu xám, 01 máy bơm nước, 01 ti vi nhãn hiệu LG 32 inch, 01 quạt điện cây, 04 quạt điện treo tường, Loa kéo, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng nhưng hiện nay vẫn chưa thu giữ được, bà L yêu cầu T phải bồi thường, Ngoài ra. Bà L còn đề nghị, Tòa án buộc T phải bồi thường tiền sửa chữa chiếc tủ lạnh do T đã cắt trộm Block của tủ nên máy không hoạt động được. Không thu được số tài sản này bà L đề nghị buộc T phải bồi thường cho bà tổng số tiền là 10 triệu đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

1/Chị Lê Thị M mua của T chiếc cân đồng hồ số tiền là 200000đ đã nộp lại cơ quan điều tra, chị M không yêu cầu T phải trả lại số tiền này.

2/ Bà Lê Thị H mua của T chiếc xe đạp Thống Nhất, một block tủ lạnh số tiền là 200.000đ đã nộp lại cơ quan điều tra, Bà H yêu cầu T phải trả lại cho bà số tiền này.

3/ Anh Nguyễn Công C, mua của T một máy lọc nước số tiền là 200000đ đã nộp lại cơ quan điều tra. Anh C không yêu cầu T phải trả lại số tiền này.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, của nhân chứng cùng các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Thiệu Hoá tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố Lê Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Đề nghị áp dụng Khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 và 2 điều 51; điểm h, điểm g khản 1 điều 52 BLHS, xử phạt Lê Văn T từ 24 đến 30 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự:

Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc Lê Văn T phải trả cho bà L các tài sản chưa thu hồi được gồm:

01 bình ga màu xám, 01 máy bơm nước, 01 ti vi nhãn hiệu LG 32 inch, 01 quạt điện cây, 04 quạt điện treo tường theo giá trị mà hội đồng đã định giá, tiền sửa chữa chiếc tủ lạnh do T đã cắt trộm Block của tủ nên máy không hoạt động được như khảo sát, giá là 1200000₫. Số tiền là 3.230.000đ.

Buộc Lê Văn T phải trả cho bà Lê Thị H số tiền là 200.000đ tiền T bán chiếc xe đạp Thống Nhất, một block tủ lạnh cho bà H.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 điều 106 bộ luật tố tụng hình sự, truy thu ở T số tiền bán một máy lọc nước cho anh C là 200.000₫; số tiền bán chiếc cân đồng hồ cho chị M là 200.000₫ xung công quỹ nhà nước. .

Bị cáo nhận tội, không có tranh L gì với đại diện Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng sự kHn hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về phần tố tụng và hành vi tố tụng:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa, đã T hành đúng theo quy định của pháp luật về thời hạn điều tra, truy tố, các biên bản hỏi cung và các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đã được tuấn thủ đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự, bị cáo, bị hại không khiếu nại gì.

Tại phiên toà công khai Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, của nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ đúng như cáo trạng đã nêu và đã được kiểm tra, thẩm định tại phiên tòa từ đó đủ cơ sở xác định:

Sau khi thám thính phát hiện thấy gia đình bà Dương Thị L ở thôn T Thắng, xã Thiệu T, huyện Thiệu Hóa không có người ở nhà, Lê Văn T đã hai lần, thực hiện hành vi lén lút đột nhập vào nhà bà L, lục soát, lấy đi của gia đình bà L các tài sản gồm:

Ngày 16/04/2020 Lê Văn T trộm cắp các tài sản gồm: 1 máy bơm nước, 01 xe đạp thống nhất, 01 ti vi màn hình phẳng nhãn hiệu LG 32 inch, 01 cục lạnh, 01 cân đồng hồ, tổng giá trị tài sản là: 2.900.000đ( hai triệu chin trăm nghìn đồng).

Ngày 18/04/2020 Lê Văn T trộm cắp các tài sản gồm: 01 quạt cây, 04 quạt treo tường, 01 bình ga, 01 máy lọc nước. Tổng giá trị tài sản là : 2.180.000đ ( Hai triệu một trăm tám mươi nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản hai lần T trộm cắp của gia đình bà L là: 5.080.000đ ( Năm triệu không trăm, tám mươi ngàn đồng).

Trộm cắp trót lọt số tài sản nêu trên T đã bán gọn lấy tiền tiêu sài cho cá nhân. Vụ án được phát giác, biết không thể che giấu hành vi trộm cắp tài sản của mình, Ngày 28/04/2020 Lê Văn T đã đến Công an xã Thiệu T đầu thú khai báo toàn bộ nội dung diễn biến về hành vi trộm cắp tài sản của mình tại nhà bà L như cáo trạng như cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hóa đã nêu.

Tại biên bản kết L định giá số 11/2020/HĐ-ĐGTS ngày 04/5/2020 và số 14/2020/HĐ-ĐGTS ngày 21/5/2020 của hội đồng định giá tài sản UBND huyện Thiệu Hóa kết L: Tổng giá trị tài sản T đã Trộm cắp của gia đình bà L với hai lần có trị giá là: 5.080.000đ ( Năm triệu không trăm, tám mươi ngàn đồng).

Như vậy Hành vi của Lê Văn T đã cấu thành tội trộm cắp tài sản có giá trị là 5.080.000đ, từ đó đủ cơ sở kết L: Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thiệu Hoá truy tố trước Toà là hoàn toàn có căn cứ.

Xét tính chất vụ án thì thấy: Đây là vụ án trị an xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh trật tự địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, về nhận thức bị cáo biết việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, T đã hai lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của gia đình bà L có trị giá là 5.080.000đ, làm tài sản riêng cho bản thân để hòng hưởng thụ trên sức lao động của người khác, theo lý lịch tư pháp cho thấy bị cáo có nhân thân chưa được tốt, có nhiều mối quan hệ phức tạp, năm 2018 Lê Văn T bị tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa xử phạt 15 tháng tù, ngày 10/8/2019 chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên T chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h, khản 1 điều 52 BLHS. Đồng thời T trộm cắp tài sản nhà bà L vào 02 ngày khác nhau, giá trị tài sản trộm cắp mỗi lần đều trên hai triệu nên T phải chịu thêm tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g, khoản 1 điều 52 BLHS. Do vậy đối với bị cáo cần xử phạt nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện và phòng ngừa chung, và cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian với đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo thành người lương thiện. Song xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, ý thức được hành vi đã đầu thú, Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm s khoản 1 và 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét lượng giảm cho bị cáo một phần để bị cáo thấy được sự nhân đạo, kHn hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người có ích cho xã hội. Bị cáo là lao động tự do, đồng thời là đối tượng nghiên ma túy thu nhập không ổn định, nên không cần thiết áp dụng hình phạt phụ phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Gia đình bà Dương Thị L trình báo việc mất tài sản gồm: Xe đạp thống nhất, Máy lọc nước nhãn hiệu TURBO, bình ga Tân thành, máy bơm nước cá sấu, Ti vi nhãn hiệu LG 32 inch, quạt cây điện cơ 91, Loa kéo, Cân đồng hồ nhãn hiệu NHƠN HÒA,Cục lạnh(Blốc Tủ lạnh), Quạt treo tường 04 cái.

Cơ quan điều tra đã thu lại một số tài sản và đã trả lại cho bà L, các tài sản chưa thu được gồm: 01 Bình ga Tân thành màu xám, 01 máy bơm nước, 01 ti vi nhãn hiệu LG 32 inch, 01 quạt điện cây, 04 quạt điện treo tường, các tài sản không thu được đã được hội đồng định giá xác định giá trị thiệt hại, đối với chiếc tủ lạnh đã có khảo sát về giá sửa chữa là căn cứ buộc T phải bồi thường.

Đối với tài sản là chiếc loa kéo mà bà L khai báo bị mất trộm, Cơ quan cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xác định Lê Văn T trộm cắp tài sản nên không có căn cứ buộc T phải bồi thường

Do vậy, chấp nhận một phần yêu cầu của bàn L.

Áp dụng khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự, buộc Lê Văn T phải bồi thường trả cho bà L các tài sản không thu hồi được gồm:

01 Bình ga Tân thành màu xám, 01 máy bơm nước, 01 ti vi nhãn hiệu LG 32 inch, 01 quạt điện cây, 04 quạt điện treo tường theo giá trị mà hội đồng đã định giá là 2.030.000₫, tiền sửa chữa chiếc tủ lạnh do T đã cắt trộm Block theo khảo sát giá là 1.200.000₫. Tổng cộng T phải bồi thường trả cho bà L số tiền là 3.230.000₫.

Về trách nhiệm dân sự đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị H mua của T chiếc xe đạp Thống Nhất, một block tủ lạnh số tiền là 200.000đ đã nộp lại cơ quan điều tra, Bà H yêu cầu T phải trả lại cho bà số tiền này, chấp nhận yêu cầu của bà H buộc T phải bồi thường cho bà H số tiền là 200,000₫.

AnhNguyễn Công C, mua của T một máy lọc nước số tiền là 200000đ đã nộp lại cơ quan điều tra, anh C không yêu cầu T phải trả lại số tiền này, chị Lê Thị M mua của T chiếc cân đồng hồ số tiền là 200000đ đã nộp lại cơ quan điều tra, chị M không yêu cầu T phải trả lại số tiền này. Chị M, anh C không yêu cầu T phải bồi thường, Áp dụng, điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 điều 106 bộ luật tố tụng hình sự truy thu ở T số tiền này xung công quỹ nhà nước.

Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Trong vụ án này,Lê Văn T khai đã gọi điện nhờ Tuấn ở xã Thọ Nguyên( nay là xã Xuân Hồng), huyện Thọ Xuân đi tiêu thụ tài sản trộm cắp với T, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Thiệu Hóa đã T hành làm việc với Công an xã Thọ Nguyên( nay là xã Xuân Hồng), huyện Thọ Xuân, với những tài liệu về Tuấn đã có thì Công an xã Xuân Hồng không đủ căn cứ xác định được đối tượng tên Tuấn là ai. Vì vậy Cơ quan CSĐT Công an huyện Thiệu Hóa tách các tài liệu liên quan đến hành vi của Tuấn để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý bằng một vụ án khác như vậy là phù hợp đúng quy định của pháp luật.

Đối với những người mua tài sản do T trộm cắp, bản thân họ không biết những tài sản mà T bán cho họ là tài sản do T đã trộm cắp, không có dấu hiệu của tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, không khởi tố, truy tố như vậy là phù hợp đúng quy định của pháp luật.

Từ các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Lê Văn T phạm tội"Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 và 2 điều 51, điểm h, điểm g khản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn T 30 (Ba mươi ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 28/04/2020 .

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng khoản 1 điều 48 Bộ luật Hình sự.

Buộc Lê Văn T phải bồi thường trả cho bà Dương Thị L số tiền là 3.230.000₫.

Buộc Lê Văn T phải bồi thường cho bà Lê Thị H số tiền là 200,000₫.

Áp dụng: Điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 điều 106 bộ luật tố tụng hình sự truy thu ở Lê Văn T số tiền là 400.000₫ xung công quỹ nhà nước.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; Luật phí và Lệ phí; Điều 21, khoản 1 Điều 23; khoản 2 điều 26 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết.

Buộc Lê Văn T phải nộp 200.000đ án phí HSST và 300.000đ án án phí dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Công C Tuyên bố bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Đối với Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thị H, Lê Thị M vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Minh Nhân

Trần Công Lâm,

Lê Văn Hà

Cỡ chữ