- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án về hủy hoại tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HSST Ngày 28-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Hoàng
Ông Đinh Mạnh Đông
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Trung - Thẩm tra viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Bá Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Hoàng Văn D, sinh ngày 01/10/1972
Nơi cư trú: xóm C, xã S, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 5/12; dân tộc: mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch:Việt Nam; con ông Hoàng Công V (đã chết) và con bà Bùi Thị X, sinh năm 1937; có vợ Bùi Thị N, sinh năm 1971 và 02 con; tiền án, tiền sự không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2019 đến ngày 08/8/2019. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Bùi Văn M, sinh năm 1962 và bà Bùi Thị H, sinh năm 1972; Có mặt.
HKTT: xóm C, xã S, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
- Người làm chứng: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1971, có mặt
Trú tại: xóm C, xã S, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 30/7/2019 Hoàng Văn D, sinh năm 1972, HKTT: xóm C, xã S, huyện L, tỉnh Hòa Bình đang nằm ngủ tại nhà thì chị Bùi Thị N (vợ D) gọi dậy và nói có đàn trâu đang ăn lúa, nghe thấy vậy D tỉnh dậy, lấy 01 cây sào dài khoảng 3m, 01 con dao nhọn dài khoảng 32cm và 01 sợi dây cao su dài 1,98m. Sau đó, D dùng dây cao su buộc con dao nhọn vào đầu cây sào rồi D mang theo ra khu ruộng lúa nhằm mục đích nếu gặp con trâu ăn lúa thì đâm trâu. Khi ra tới ruộng lúa, D thấy 01 con trâu mẹ khoảng 4 năm tuổi và 01 trâu con khoảng 01 năm tuổi của gia đình ông Bùi Văn M, sinh năm 1962, ở xóm C, xã S, huyện L, tỉnh Hòa Bình đang ăn lúa. D dùng cây sào có buộc dao nhọn lao về phía 02 con trâu thì trúng vào phần hông bên trái con trâu con, 02 con trâu bỏ chạy, D tiếp tục nhặt cây sào và đuổi theo trâu mẹ đến khu vực suối Chanh thuộc xóm C, xã S, D lao cây sào trúng sườn bên phải trâu mẹ, trâu mẹ bỏ chạy thì D tiếp tục nhặt sào đuổi theo, thấy trâu mẹ chạy vào bụi cây thì D tiếp tục dùng cây sào lao về phía trâu mẹ trúng vào sườn bên phải, lúc này D thấy con trâu chạy chậm lại và chất màu trắng chảy ra từ vết thương bên sườn con trâu, sợ trâu chết nên D không đuổi nữa. D tháo dao ra khỏi cầy sào rồi mang con dao và sợi dây cao su về nhà còn cây sào D vứt lại khu vực suối Chanh. Đến ngày 31/7/2019 gia đình ông M đi tìm trâu thì phát hiện con trâu mẹ đã chết tại khu vực bờ suối Chanh, trên thân con trâu có nhiều vết dao đâm. Ngày 05/8/2019 D đến cơ quan công an đầu thú.
Kết quả định giá tài sản đối với con trâu mẹ khoảng 4 năm tuổi của gia đình ông M bị Hoàng Văn D đâm chết trị giá 18.500.000 đồng (mười tám triệu năm trăm ngàn đồng).
Về vật chứng đã thu giữ:
+ 01 con dao nhọn, có 01 lưỡi sắc, dài 32,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại, dài 19cm, rộng 4cm, cán dao làm bằng gỗ hình trụ tròn, đường kính 3,5cm, dao nặng 220g;
+ 01 dây cao su màu đen, hình dẹt, dài 1,98m, dày 0,15cm, được quấn các sợi màu vàng - đỏ.
Bản cáo trạng số 59/CT-VKSLS, ngày 01/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo Hoàng Văn D về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn D, đề nghị Hội đồng xét xử xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Áp dụng khoản 1 điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 (gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo đầu thú) điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn D mức án từ 9 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị cáo và bị hại tự nguyện thỏa thuận và bị cáo đã bồi thường giá trị con trâu mẹ 04 năm (tuổi) với số tiền là 24.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên không đề nghị xử lý.
Về vật chứng của vụ án áp dụng điều 46, điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn, có 01 lưỡi sắc, dài 32,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại, dài 19cm, rộng 4cm, cán dao làm bằng gỗ hình trụ tròn, đường kính 3,5cm, dao nặng 220g; 01 dây cao su màu đen, hình dẹt, dài 1,98m, dày 0,15cm, được quấn các sợi màu vàng - đỏ.
Ý kiến bị cáo đồng ý về tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng; về mức hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo. Đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát về xử lý vật chứng.
Ý kiến bị hại đồng ý về tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; về mức hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Về trách nhiệm dân sự bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại với số tiền là 24.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại không yêu cầu đề nghị gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lương Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện công khai, hợp pháp, đúng pháp luật.
Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, cũng như phù hợp với hành vi khách quan được mô tả trong bản cáo trạng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 30/7/2019 Hoàng Văn D phát hiện con trâu đang ăn lúa nhà mình, D dùng 01 cây sào dài khoảng 3m và 01 con dao nhọn dài khoảng 32cm và 01 sợi dây cao su dài 1,98m, sau đó D dùng dây cao su buộc con dao nhọn và đầu cây sào dùng cây sào buộc Dao để đâm trâu. Khi ra tới ruộng lúa thì D thấy 01 con trâu mẹ khoảng 4 năm tuổi và 01 trâu con khoảng 01 năm tuổi của gia đình anh Bùi Văn M, đang ăn lúa, D dùng cây sào có buộc dao nhọn lao về phía 02 con trâu thì trúng vào phần hông bên trái trâu con, 02 con trâu bỏ chạy, D tiếp tục nhặt cây sào và đuổi theo trâu mẹ lao 03 nhát trúng vào sườn phải và 01 nhát trúng vào khủy chân bên phải trâu mẹ dẫn đến trâu mẹ bị chết. 01 con trâu mẹ 04 năm (tuổi) trị giá là 18.500.000 đồng.
Xét bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an địa phương, trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.
Như vậy có đủ căn cứ chứng minh: Bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 điều 178 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố bị cáo theo tội danh trên, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an đầu thú, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét mức hình phạt đối với bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại điều 65 bộ luật hình sự, vẫn đảm bảo mục đích cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.
Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí:
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị cáo và bị hại tự nguyện thỏa thuận và bị cáo đã bồi thường giá trị con trâu mẹ 04 năm (tuổi) với số tiền là 24.000.000 đồng, tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng: 01 con dao nhọn, có 01 lưỡi sắc, dài 32,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại, dài 19cm, rộng 4cm, cán dao làm bằng gỗ hình trụ tròn, đường kính 3,5cm, dao nặng 220g; 01 dây cao su màu đen, hình dẹt, dài 1,98m, dày 0,15cm, được quấn các sợi màu vàng - đỏ là công cụ phạm tội, cần áp dụng điều 46, điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với cây sào, sau khi phạm tội bị cáo D vứt lại tại bờ suối, cơ quan điều tra đang tiến hành truy tìm vật chứng, khi nào tìm thấy sẽ xử lý sau.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn D phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn D 9 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Hoàng Văn D cho UBND xã Trường Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng của vụ án: áp dụng điều 46, điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao nhọn, có 01 lưỡi sắc, dài 32,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại, dài 19cm, rộng 4cm, cán dao làm bằng gỗ hình trụ tròn, đường kính 3,5cm, dao nặng 220g; 01 dây cao su màu đen, hình dẹt, dài 1,98m, dày 0,15cm, được quấn các sợi màu vàng - đỏ.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/11/2019 giữa Công an huyện Lương sơn và Chi cục thi hành án huyện Lương sơn, tỉnh Hòa Bình).
3. Về án phí: áp dụng 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Hoàng Văn Dưỡng phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND h. Lương Sơn; - C.A h. Lương Sơn; - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình - UBND xã Trường Sơn - Bị cáo; - Người tham gia TT; - Lưu HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Lan THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |