- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lê T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HS-ST Ngày 23-6-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy Vân
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tươi
2. Bà Võ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 6 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2020/HSST ngày 28 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê T - Sinh năm 1964, tại Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Khối phố C, phường B, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Th, con bà Nguyễn Thị N (cả hai đã chết); bị cáo có vợ Nguyễn Thị Ph 1 và có hai con, con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không, bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Trần Duy H, sinh năm: 1986, địa chỉ: khối phố N, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị Ph1, sinh năm: 1965, địa chỉ: Khối phố C, phường B, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (có mặt)
+ Chị Nguyễn Thị Ph2, sinh năm: 1976, địa chỉ: Thôn T, xã Điện T, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)
+ Chị Nguyễn Thị C, sinh năm: 1978, địa chỉ: Thôn P, xã Điện T, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (có mặt)
- Người làm chứng: Ông Rơ Châm Th, sinh năm: 1997, địa chỉ: Xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 21/11/2019, chị Nguyễn Thị C soạn bàn bán đồ ăn sáng trước quán cà phê H thuộc khối phố Cẩm Sa, phường Điện Nam Bắc do anh Trần Duy H làm chủ cản trở khách ra vào quán cà phê. Anh H đến nhắc nhở nên hai bên xảy ra cãi vả. Anh H điều khiển xe máy tông vào bàn bày bán thức ăn làm đồ ăn bị đổ xuống đường. Lúc này chị Nguyễn Thị Ph1, chị Nguyễn Thị Ph2, cả hai là chị em ruột với chị C và cùng bán đồ ăn sáng gần đó xông vào dùng tay chân và cán chổi đánh anh H. Anh H đi lùi lại vào trong sân quán cà phê thì Lê T đến và thấy chị C, chị Ph1 và chị Ph2 đang xô xát với anh H nên nhặt hai chai nước ngọt hiệu Sting (loại chai thủy tinh) ném về phía anh H. T ném chai thứ nhất không trúng, chai thứ hai trúng vào vùng đầu anh H làm anh H bị rách da vùng trên chân mày trái. Sau đó anh H đi sơ cứu, khâu vết thương và trình báo cơ quan Công an.
Kết luận giám định thương tích số 415/GĐTT.19 ngày 20/12/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam thì tỉ lệ thương tích của anh H là 5%. Cụ thể như sau:
- Vùng trán trái, cách phía trên cung lông mày 01 cm có vết rách da và cơ đã lành sẹo thâm dài 2,9 cm, rộng 0,2cm, ấn đau, đau chủ yếu đau da và cơ. Vết thương do vật tày có cạnh tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, chếch từ pHsang trái, từ trên xuống dưới. Tỷ lệ thương tích 03%.
- Mặt trước đoạn 1/3 trên và giữa cẳng chân pHcó vết xát da không liên tục đã đóng vảy dài 10 cm, rộng trung bình 02 cm. Vết thương do vật tày tác động gây nên. Hướng từ trước ra sau, từ dưới lên trên. Tỉ lệ thương tích 02%.
Về vật chứng: Quá trình điều tra tạm giữ
- 01 đĩa CD chứa đoạn video ghi lại diễn biến sự việc do anh Trần Duy H cung cấp.
- 01 mảnh vỡ cổ chai, 01 mảnh vỡ đáy chai, 01 mảnh vỡ thân chai thủy tinh.
Về dân sự: Người bị hại anh Trần Duy H yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 4.970.026 đồng. Bị cáo Lê T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự số tiền 1.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0012808 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn.
Bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 24/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, truy tố bị cáo Lê T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Về hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.
+ Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo Lê T tiếp tục bồi thường cho anh Trần Duy H số tiền còn lại.
+ Về vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ vụ án 01 đĩa CD chứa đoạn video ghi lại diễn biến sự việc do anh Trần Duy H cung cấp và tuyên tịch thu tiêu hủy 01 mảnh vỡ cổ chai, 01 mảnh vỡ đáy chai, 01 mảnh vỡ thân chai thủy tinh.
+ Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị hư hỏng của bà Nguyễn Thị C đề nghị tách ra giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Về lời trình bày của những người tham gia tố tụng:
Đối với bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, thống nhất với kết luận điều tra và quyết định truy tố, đồng thời cũng nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
Đối với người bị hại: Tại phiên tòa người bị hại vắng mặt nhưng giai đoạn điều tra và quá trình giải quyết vụ án người bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi tố vụ án và đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị C: Qúa trình điều tra, truy tố chị không có yêu cầu giải quyết về tài sản bị hư hỏng do anh Trần Duy H gây ra. Tuy nhiên, tại phiên Tòa bà xác định giá trị tài sản thiệt hại là 1.600.000 đồng và yêu cầu anh H phải bồi thường thiệt hại cho mình
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ph1 không ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo Lê T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu và phù hợp với toàn bộ diễn biến sự việc do camera ghi lại có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào khoảng 06 giờ ngày 21/11/2019, tại trước quán cà phê H thuộc khối phố Cẩm Sa, phường Điện Nam Bắc, Lê T đã dùng chai thủy tinh là hung khí nguy hiểm ném trúng vào đầu anh Trần Duy H làm anh H bị thương tích 3%. Như vậy, bị cáo Lê T đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý, gây tổn hại cho sức khỏe nạn nhân, thể hiện bản chất coi thường pháp luật, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích“ theo điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, nên cần pHxử bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện nộp một khoản tiền vào Chi cục thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. nên áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đồng thời xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thì bị cáo vẫn có khả năng tự cải tạo. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện cho bị cáo tự rèn luyện, tu dưỡng thành người công dân tốt.
Những vấn đề liên quan đến vụ án:
Đối với thương tích 02% tại cẳng chân phải của anh Trần Duy H: Qua xem xét video ghi lại diễn biến vụ việc và lời khai những người liên quan, người làm chứng đều không ghi nhận việc anh Trần Duy H bị thương ở chân là do Lê T gây ra. Anh H cũng khẳng định bị cáo Lê Tchỉ ném chai thủy tinh làm anh bị thương tích ở vùng trán. Do đó không có căn cứ buộc Lê T phải chịu trách nhiệm đối với thương tích này.
Đối với hành vi của chị Nguyễn Thị Cúc, Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Thị Ph2 dùng tay chân và dùng chổi đánh anh Trần Duy H nhưng không gây thương tích. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thị xã Điện Bàn để xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định.
Đối với hành vi của anh Trần Duy H dùng xe máy tông vào bàn bày bán thức ăn của chị Nguyễn Thị C, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thị xã Điện Bàn để xử lý vi phạm hành chính.
Về việc chị Nguyễn Thị C yêu cầu anh Trần Duy H bồi thường thiệt hại do tài sản bị hỏng là 1.600.000 đồng. Xét thấy quá trình điều tra, truy tố chị C không có yêu cầu giải quyết và bồi thường nhưng tại phiên Tòa hôm nay chị C yêu cầu bồi thường, tuy nhiên do anh Trần Duy H vắng mặt tại phiên tòa nên không thỏa thuận được việc bồi thường. Vì vậy sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án dân sự khác khi chị Nguyễn Thị C có đơn yêu cầu.
Về dân sự: Người bị hại yêu cầu bồi thường các khoản gồm:
+ Tiền chi phí điều trị thuốc men tại bệnh viện (có hóa đơn, chứng từ): 500.026 đồng.
+ Tiền bồi thường tổn thất tinh thần 3 tháng lương cơ sở: 4.470.000 đồng.
Tổng cộng: 4.970.026.000 đồng
Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ các khoản theo yêu cầu của người bị hại. Vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, hiện nay bị cáo đã nộp 1.000.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn nên buộc bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 3.970.026 đồng cho anh Trần Duy H,
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Lê T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án 23/6/2020
Giao bị cáo Lê T về cho Ủy ban nhân dân phường Điện Nam Bắc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cư trú, phối hợp cùng với gia đình để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
Trong thời gian thử thách án treo người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được án treo pHchấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú trong phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục chuyển hồ sơ thi hành án treo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hưởng án treo đến cư trú để tổ chức việc thi hành án theo quy định tại Điều 62 của Luật thi hành án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Về dân sự: Bị hại Trần Duy H được nhận số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo Lê T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn theo biên lai thu tiền số 0012808 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn. Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Lê T tiếp tục bồi thường số tiền 3.970/026 đồng cho ông Trần Duy H
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nói trên, hàng tháng những người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thi hành theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 mảnh vỡ cổ chai, 01 mảnh vỡ đáy chai, 01 mảnh vỡ thân chai thủy tinh. (Tang vật hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/4/2020)
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Lê T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Viện kiểm sát tỉnh Quảng Nam - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Thúy Vân |