vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 01/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Anh T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 cây kéo kim loại (Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Anh T - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày: 01 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tưởng Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Sơn và bà Trần Thị Ngọc Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh -Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2020/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Anh T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 10 tháng 02 năm 1994 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết X và bà Trương Thị Hồng N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc Q, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình - vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 15 phút, ngày 06/10/2019, Lê Anh T sau khi đi tham dự tiệc sinh nhật của bạn thì nhớ đến việc mẹ mình là bà Trương Thị Hồng N có mâu thuẫn với gia đình anh Nguyễn Ngọc Q nên đi xuống bếp lấy một cái kéo rồi đến trước nhà anh Q to tiếng, gây gổ. Khi anh Q đi ra gặp T thì hai bên cãi vã qua lại một lúc rồi Tuấn cầm kéo lao vào đâm anh Q. Anh Q đưa tay phải lên đỡ thì bị mũi kéo đâm trúng lòng bàn tay gây nên vết thương dài khoảng 1cm, sâu gọn và chảy máu phải đi sơ cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Quảng Bình.

Tại Bản kết luận giám định số 126/TgT ngày 24/12/2019 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Quảng Bình đối với thương tích của anh Nguyễn Ngọc Q kết luận “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 06%”

Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an thị xã B thu giữ 01 cây kéo bằng kim loại, dài 20cm, cán được bọc bằng nhựa màu xanh, đã qua sử dụng.

Về dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo, bị hại đã thỏa thuận bồi thường số tiền 7.500.000 đồng. Bị hại anh Nguyễn Ngọc Q đã nhận đủ số tiền và cam đoan sẽ không khiếu nại, khiếu kiện gì về sau.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSNDTXBĐ ngày 15 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Lê Anh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Anh T từ 06 đến 09 tháng tù cho nhưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Bị cáo Lê Anh T nhất trí tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã ân hận và nhận thức được sự sai trái trong hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, việc thu giữ các vật chứng của vụ án và các hành vi, quyết định tố tụng khác của Điều tra viên đều được thực hiện đúng pháp luật. Việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng thẩm quyền, tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Anh T đã hoàn toàn thừa nhận và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ giữa mẹ mình và gia đình anh Q nên sau khi đã uống rượu say, không kiềm chế, làm chủ được bản thân nên bị cáo đã dùng 01 cái kéo kim loại đâm trúng vào lòng bàn tay phải của anh Nguyễn Ngọc Q, gây tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%. Xét thấy diễn biến hành vi phạm tội bị cáo khai nhận phù hợp với lời khai của người bị hại, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Lê Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự, trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức cũng như khả năng điều khiển hành vi nhưng vì bản tính nóng nảy, thiếu kiềm chế nên khi uống rượu say đã sử dụng hung khí nguy hiểm, có độ sát thương cao để gây thương tích cho anh Q. Điều đó thể hiện bị cáo là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sẵn sàng phạm tội. Vì vậy, xét thấy cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt nghiêm đối với bị cáo nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ sau: bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo với cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần căn cứ vào khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là cũng thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, không ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm của địa phương.

Về vật chứng vụ án: Xét thấy 01 cây kéo mà cơ quan CSĐT Công an thị xã B thu giữ là công cụ phạm tội nên cần căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường số tiền 7.500.000 đồng theo yêu cầu của bị hại. Tại phiên tòa hôm nay người bị hại vắng mặt nhưng quá trình điều tra không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Lê Anh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Anh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Anh T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 cây kéo kim loại (Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B ngày 18/5/2020).

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về án phí: buộc bị cáo Lê Anh T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (đối với người có mặt) hoặc trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm (đối với người vắng mặt)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ