vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 08/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

cáo Phạm Ngọc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Trả lại; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 23/2020/HS-ST:

N :yàg 80 -6-220 0 .

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG Với

thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Trang; Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Thanh Sang; 2/ Ông Lê Văn Kiệt. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Phương - Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2020/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2020, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo: Phạm Ngọc T sinh năm 1982, tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: Ấp 1, xã Đ, thành phố Mỹ Tho, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; chổ ở hiện nay: Ấp 3B, xã Đ, thành phố Mỹ Tho, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang;nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; con ông Phạm Văn V sinh năm 1937 và bà Dương Thị B sinh năm 1945; vợ Nguyễn Thị Thúy N sinh năm 1985; bị cáo có hai người con, một người sinh năm 2000 và một người sinh năm 2004; tiền sự: Không có; tiền án: Không có. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/02/2020. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. * Bị hại: 1. Võ Minh H, sinh năm 1974 (có mặt); Nơi cư trú: số 171 đường L, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. 2. Nguyễn Thị L, sinh năm 1972 (có mặt); Nơi cư trú: số 128 ấp H, xã M, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Kim T, sinh năm 1954 (vắng mặt); Nơi cư trú: số 1/8 đường Nguyễn Huỳnh Đức, phường 8, thành phố Mỹ Tho, tỉnh

Tiền Giang. * Người làm chứng: Huỳnh Nguyễn Hoàng O, sinh năm 1989 (vắng mặt); Nơi cư trú: số 377 tổ 13 ấp 3, xã Đ, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do không có nghề nghiệp, không có tiền tiêu xài nên bị cáo Phạm Ngọc T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Từ khoảng 08 giờ 15 phút đến 22 giờ ngày 29/8/2019, bị cáo T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn các xã Đ và M, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, cụ thể: Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 29/8/2019, bị cáo T đi bộ trên Huyện lộ 92D thuộc xã Đ thì thấy anh Võ Minh H dựng xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Team (có kiểu dáng giống xe Wave do Trung Quốc sản xuất), biển số 51F7-5436 màu xanh dưới lòng đường trước cửa tiệm tạp hóa “Long” tại số 377, tổ 3, ấp 3A, xã Đ, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang và xuống xe bước vào cửa tiệm đứng mua thuốc lá, chìa khóa vẫn gắn trên ổ khóa xe, xe cách anh H khoảng 02m. Bị cáo T thấy anh H đang đứng quay mặt vào trong quán, không trông giữ xe nên bị cáo T lén lút đi đến từ phía sau anh H, ngồi lên xe khởi động máy điều khiển vào bên trong trụ sở Công an thành phố Mỹ Tho, dựng xe bên trong trụ sở rồi đi bộ ra ngoài. Bị cáo T khai do trước đó có sử dụng ma túy nên suy nghĩ có người đuổi theo giết T nên T mới điều khiển xe đến Công an thành phố Mỹ Tho. Vật chứng vụ án thu giữ gồm: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Team (có kiểu dáng giống xe Wave do Trung Quốc sản xuất), biển số 51F7-5436, màu xanh, số máy 00201627, số khung 1080227; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 51F7-5436 mang tên Lưu Mỹ P. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 4787 ngày 17/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Team (có kiểu dáng giống xe Wave do Trung Quốc sản xuất), biển số 51F7-5436, màu xanh, số máy 00201627, số khung 1080227, dung tích 108 trị giá 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng). Căn cứ Kết luận giám định số 1268 ngày 06/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: 1. Số khung, số máy: Số khung LLCLXN3A7Y1080227 trước và sau giám định không đổi. Số máy LC152FMH-00201627 trước và sau giám định không đổi. 2. Giấy Đăng ký mô tô, xe máy: Giấy “Đăng ký mô tô, xe máy” số A1178141, tên chủ xe Lưu Mỹ P sinh năm 1978, nơi thường trú số 235/81/3, đường N, Phường 8, Quận 3, nhãn hiệu TEAM, loại xe 110CQ, màu sơn xanh, số máy 00201627, số khung 1080227, biển số 51F7- 5436, cấp ngày 02/11/2000 (ký hiệu 1268/A) so với mẫu giấy “Đăng ký mô tô, xe máy” lưu tại Phòng Kỹ thuật hình sự (ký hiệu M) là cùng phương pháp in. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thu mẫu chữ ký mang tên Trung tá Thân Minh K – Trưởng Phòng Cảnh sát

giao thông và hình dấu tròn của Công an Thành phố Hồ Chí Minh thời điểm 2000 (số lượng 05 mẫu) gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang để tiếp tục nghiên cứu giám định. Trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Minh H yêu cầu được nhận lại xe và giấy tờ xe, không yêu cầu gì khác. Vụ thứ hai: Khoảng 22 giờ ngày 29/8/2019, bị cáo T đi bộ ngang nhà chị Nguyễn Thị L, sinh 1972, ngụ số 128, ấp H, xã M, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thấy 01 xe mô tô hiệu DH88 màu đỏ biển số 63F1-4865 dựng trước cửa nhà không người trông coi, trên xe có trùm 01 áo mưa và gắn sẵn chìa khóa nên bị cáo T đã lén lút đi đến lấy áo mưa ném xuống đất, bật công tắt xe nổ máy chạy đến cầu Chợ Bưng thuộc ấp 1, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang thì xe hết xăng nên bị cáo Thắng bỏ xe lại rồi lén lút đu bám theo xe tải đến ấp Trà Canh A1, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, tại đây bị cáo T tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 30/8/2019 nên bị khởi tố, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu DH88 màu đỏ, biển số 63F1-4865, số máy 6072090, số khung 672074; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63F1-4865 mang tên Kim Tư. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 5627 ngày 29/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho kết luận: 01 xe mô tô hiệu DH88 màu đỏ biển số 63F1-4865, số máy 6072090, số khung 672074 trị giá 2.233.335 đồng (Hai triệu, hai trăm ba mươi ba ngàn, ba trăm ba mươi lăm đồng). Trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị L yêu cầu được nhận lại xe và giấy tờ xe, không yêu cầu gì khác. Tại Cáo trạng số 26/CT-VKS-HS ngày 07 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh và khung hình phạt như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị hại Võ Minh H 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Team (có kiểu dáng giống xe Wave do Trung Quốc sản xuất), biển số 51F7-5436, màu xanh, số máy 00201627, số khung 1080227; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 51F7-5436 mang tên Lưu Mỹ Ph. Đề nghị Hội đồng xét xử trả cho bị hại Nguyễn Thị L: 01 xe mô tô nhãn hiệu DH88 màu đỏ, biển số 63F1-4865, số máy 6072090, số khung 672074; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63F1-4865 mang tên Kim T. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Võ Thanh H và Nguyễn Thị L không có yêu cầu bồi thường gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Phát biểu tự bào chữa của bị cáo Phạm Ngọc T: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Mỹ Tho, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đều không có khiếu nại hay có ý kiến gì về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã thực hiện đúng quy định pháp luật. [2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc T đã khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Từ khoảng 08 giờ 15 phút đến 22 giờ ngày 29/8/2019, bị cáo Phạm Ngọc T đã lợi dụng sự mất cảnh giác và chủ quan của bị hại để lén lúc thực hiện hành vi lấy trộm 01 xe mô tô của anh Võ Minh H tại trước tiệm tạp hóa “Long”, số 377, tổ 3, ấp 3A, xã Đ, thành phố Mỹ Tho và 01 xe mô tô của chị Nguyễn Thị L tại trước nhà số 128, ấp H, xã M, thành phố Mỹ Tho. Theo bản kết luận định giá tài sản số 4787 ngày 17/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho kết luận: 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Team (có kiểu dáng giống xe Wave do Trung Quốc sản xuất), biển số 51F7-5436, màu xanh, số máy 00201627, số khung 1080227, dung tích 108 trị giá 2.400.000 đồng và Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 5627 ngày 29/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho kết luận: 01 xe mô tô hiệu DH88 màu đỏ biển số 63F1-4865, số máy 6072090, số khung 672074 trị giá 2.233.335 đồng. Tổng tài sản trị giá 4.633.335 đồng nên bị cáo T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.0000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã đưa ra chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo T về tội phạm nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo T đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật Nhà nước ta bảo vệ, hành vi đó không chỉ làm thiệt hại đến tài sản của người khác, mà còn gây hoang mang làm cho nhân dân không an tâm lao động, sản xuất, gây mất trật tự xã hội. Do vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc là cách ly các bị cáo ra khỏi xã một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục cho các bị cáo biết tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung. [3] Về nhân thân của bị cáo Phạm Ngọc T: Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự. Tuy nhiên ngày 26/9/2019, T bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/02/2020.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, mẹ của bị cáo T là người có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử thống nhất giảm nhẹ cho bị cáo T theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo T phạm tội 02 lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự. [5] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại Võ Minh H và Nguyễn Thị L không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về vật chứng vụ án: Đối với xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Team (có kiểu dáng giống xe Wave do Trung Quốc sản xuất), biển số 51F7-5436 do Lưu Mỹ P sinh năm 1978, ngụ số 235/81/3, đường N, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, qua xác minh không có địa chỉ 235/81/3, đường N, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh nên không xác định được người tên Lưu Mỹ P để lấy lời khai. Bị hại H mua lại xe này của người khác (không nhớ người bán) với giá 8.000.000 đồng, không làm giấy tờ mua bán, không nhớ thời gian mua, không sang tên, khi mua lại xe thì chủ trước đã thay thế một số phụ tùng xe. Căn cứ Kết luận giám định số 1268 ngày 06/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: (1) Số khung, số máy: Số khung LLCLXN3A7Y1080227 trước và sau giám định không đổi. Số máy LC152FMH-00201627 trước và sau giám định không đổi. (2) Giấy Đăng ký mô tô, xe máy: Giấy “Đăng ký mô tô, xe máy” số A1178141, tên chủ xe Lưu Mỹ P sinh năm 1978, nơi thường trú số 235/81/3, đường N, Phường 8, Quận 3, nhãn hiệu TEAM, loại xe 110CQ, màu sơn xanh, số máy 00201627, số khung 1080227, biển số 51F7-5436, cấp ngày 02/11/2000 (ký hiệu 1268/A) so với mẫu giấy “Đăng ký mô tô, xe máy” lưu tại Phòng Kỹ thuật hình sự (ký hiệu M) là cùng phương pháp in. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại Võ Minh H có yêu cầu nhận lại tài sản bị mất trộm. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét trả lại cho bị hại Võ Minh H 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Team (có kiểu dáng giống xe Wave do Trung Quốc sản xuất), biển số 51F7-5436, màu xanh, số máy 00201627, số khung 1080227; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 51F7-5436 mang tên Lưu Mỹ P. Đối với xe mô tô nhãn hiệu DH88 màu đỏ, biển số 63F1-4865, số máy 6072090, số khung 672074; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63F1-4865 mang tên Kim T. Khoảng 20 năm trước, chị Nguyễn Thị L mua lại xe này của bà Kim T nhưng chưa sang tên; bà Kim T đã bán xe nên không yêu cầu gì về xe. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét trả lại bị hại Nguyễn Thị L: 01 xe mô tô nhãn hiệu DH88 màu đỏ, biển số 63F1-4865, số máy 6072090, số khung 672074; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63F1-4865 mang tên Kim T. [7] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về mức hình phạt là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án. Về vật chứng: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Trả lại cho bị hại Võ Minh H 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Team, loại 110CQ (có hình dáng bên ngoài giống xe Ware màu xanh), biển số 51F7-5436, màu xanh, số máy 00201627, số khung 1080227, có kính chiếu hậu bên trái, xe không nổ máy, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 51F7-5436 mang tên Lưu Mỹ P. Trả lại bị hại Nguyễn Thị L: 01 xe mô tô nhãn hiệu DH88 màu đỏ, biển số 63F1-4865, số máy 6072090, số khung 672074, không kính chiếu hậu, xã không nổ máy, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong và 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 63F1-4865 mang tên Kim T. Hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đang giữ toàn bộ các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2020. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và bị hại cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. T M . H Ộ I Đ Ồ N G X É T X Ử S Ơ T H Ẩ M

Cỡ chữ