vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ Tuyên án 23/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Như Q phạm tội trộm cắp tài sản.

[2] Xử phạt: Lê Như Q 01 năm 06 tháng tù. [3] Tổng hợp hình phạt chung với các bản án đã có hiệu lực pháp luật (Cụ thể: Bản án số 188/2019/HS-ST ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Cần Thơ; Bản án số 89/2019/HS-ST ngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ; Bản á…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Lê Như Q phạm tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁNNHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày: 23-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông (bà) Bùi Thanh Trí

2. Ông (bà) Nguyễn Thanh Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông (bà) Phạm Thị Cúc- Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận C, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Như Q; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1989; Nơi sinh: Sóc Trăng; Nơi cư trú: xã B, huyện S, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam

- Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Chức vụ: không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Lê Văn P (sống); Họ và tên mẹ: Trần Thị S (sống); Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: không; Tiền án: Không. Nhân Thân: Ngày 05/11/2019 Lê Như Q bị Tòa án nhân dân quận K, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 06/11/2019 bị Tòa án nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 25/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 10/12/2019, bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hậu Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận K bắt tạm giam ngày 30/5/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận K, thành phố Cần Thơ.

*Người bị hại: Trung tâm T

Địa chỉ: phường H, quận K, thành phố Cần Thơ

- Đại diện ủy quyền của người bị hại: Trần Hoàng Đ (văn bản ủy quyền ngày 02.12.2019)

Địa chỉ: phường H, quận K, thành phố Cần Thơ.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1980

Địa chỉ: khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Cao Thị P, sinh năm 1972

Địa chỉ: xã T, huyện H, tỉnh Vĩnh Long

- Nguyễn Tống Bùi Thanh T, sinh năm 1972

Địa chỉ: phường L, quận K, thành phố Cần Thơ.

- Lê Trường T, sinh năm 1980

Địa chỉ: phường L, quận K, thành phố Cần Thơ.

- Võ Thanh L, sinh năm 1982

Địa chỉ: phường H, quận K, TP. Cần Thơ

- Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 (Vắng mặt- theo xác minh đương sự này đã bỏ địa phương đi đâu không rõ- bút lục 26)

Địa chỉ: huyện B, tỉnh Vĩnh Long

- Trần Thị Ngọc R, sinh năm 1988

Địa chỉ: xã X, huyện T, TP. Cần Thơ

- Vương Phú D, sinh năm 1980

Địa chỉ: 152, khu vực An Phú, phường P, quận C, TP. Cần Thơ

(Bị hại và các người liên quan- Nguyễn Thị Thùy D, Cao Thị P, Nguyễn Tống Bùi Thanh T, Lê Trường T, Võ Thanh L, Trần Thị Ngọc R, Vương Phú D: có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên trong khoảng thời gian từ tháng 3/2019 đến tháng 4/2019 Q đã thực hiện 02 vụ trộm cắp bình ắc quy tại các trạm phát sóng V trên địa bàn quận C cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào sáng ngày 26/3/2019, Q đến trạm phát sóng V thuộc khu vực A, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ, nhập mật khẩu mở khóa cửa, dùng chìa khóa đã chuẩn bị sẵn mở ốc trên cọc bình lấy trộm 01 tổ hợp gồm 24 bình ắc quy nhãn hiệu Posmax 2V-300Ah. Sau đó Q gọi điện cho Nguyễn Thị Thùy D là chủ vựa phế liệu I để bán bình và nhờ D liên hệ xe ô tô tải đến chở bình. D liên hệ với Lê Trường T tài xế lái xe tải và kêu Nguyễn Văn T nhân viên của vựa phế liệu đi đến chở bình về cơ sở phế liệu I tại phường G, quận C, thành phố Cần Thơ. Q trả tiền thuê xe cho T 300.000 đồng, trả công cho T 200.000 đồng. Tài sản lấy trộm Q bán cho D được 8.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ hai: Vào chiều ngày 12/4/2019, Q đến trạm phát sóng V thuộc phường Y, quận C, thành phố Cần Thơ, với cách thức tương tự như trên, Q đã lấy trộm 04 bình ắc quy nhãn hiệu Vision 12V-250Ah. D liên hệ anh Nguyễn Tống Bùi Thanh T tài xế xe tải cùng Nguyễn Văn T đến chở bình cho Q về cơ sở phế liệu I. Q trả tiền thuê xe cho Thanh T 500.000 đồng, trả công cho T 200.000 đồng. Tài sản lấy trộm Q bán cho D được 8.000.000 đồng và đã tiêu xài cá nhân hết (BL 125-138).

Về tài sản trộm cắp không thu hồi được do chị Nguyễn Thị Thùy D đã gom bán cho vựa phế liệu của chị Cao Thị P ở Vĩnh Long. Chị P tiếp tục bán lại cho vựa phế liệu không rõ địa chỉ trên thành phố Hồ Chí Minh (BL 107-110).

Tại kết luận định giá tài sản số 64/TCKH-HĐĐG ngày 12/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C đã kết luận: 24 bình ắc quy nhãn hiệu Posmax 2V-300Ah có giá trị 18.073.989 đồng (BL 20-21).

Tại kết luận định giá tài sản số 81/TCKH-HĐĐG ngày 23/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C đã kết luận: 04 bình ắc quy nhãn hiệu Vision 12V-250Ah có giá trị 13.200.000 đồng. (BL 22-23).

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận C đã yêu cầu Trung tâm tính cước và thanh khoản Mobifone cung cấp dữ liệu cuộc gọi từ số thuê bao 0901.777.949 do Q sử dụng liên hệ với chị Nguyễn Thị Thùy D biết địa chỉ chở bình nhưng đến nay chưa có kết quả (BL 149,151-152). Cơ quan điều tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Thị Thùy D, Lê Trường T, Nguyễn Tống Bùi Thanh T, Cao Thị P và Nguyễn Văn T khi tham gia hỗ trợ Q vận chuyển và mua các bình ắc quy không biết đây là tài do phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Hoàng Đ đại diện Trung tâm V yêu cầu bị cáo bồi thường 49.347.978 đồng (BL 121-122).

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKS ngày 11/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận C đã truy tố bị cáo Lê Như Q về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Lê Như Q về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Đồng thời, đề nghị HĐXX căn cứ các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo Lê Như Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo Q bồi thường thiệt hại cho bị hại 31.273.989đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Như Q thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận C đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đối chiếu với các chứng cứ thấy rằng, quá trình điều tra đã tuân thủ các quy định của pháp luật. Các chứng cứ có tại hồ sơ đủ để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại - công ty T có giá trị 31.273.989 đồng. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin đối với mọi người xung quanh, làm mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục, cải tạo bản thân bị cáo tốt hơn và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên khi lượng hình xem xét đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo để cân nhắc mức hình phạt phù hợp cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 49.347.978 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo chỉ đồng ý bồi thường cho bị hại theo giá trị thực tế đã được định giá. HĐXX xét thấy, tài sản thực tế mà bị cáo đã trộm cắp có giá trị 31.273.989 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường khoản tiền trên cho bị hại là phù hợp. Do vậy, HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại với tổng số tiền là 31.273.989 đồng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 điều 173; Điểm s khoản 1 khoản Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52; điều 56 Bộ luật hình sự. Điều 589 Bộ luật dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Như Q phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt: Lê Như Q 01 năm 06 tháng tù.

Tổng hợp hình phạt chung với các bản án đã có hiệu lực pháp luật (Cụ thể: Bản án số 188/2019/HS-ST ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân quận K, thành phố Cần Thơ; Bản án số 89/2019/HS-ST ngày 06/11/2019 của Tòa án nhân dân quận B, thành phố Cần Thơ; Bản án số 51/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang; Bản án số 63/2019/HS-ST ngày 10/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hậu Giang), bị cáo phải chấp hành tổng hợp là 08 năm tù. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 30/5/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại tổng số tiền 31.273.989 đồng.

Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ.

- Án phí dân sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu: 1.563.699đ

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết đối với người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ