vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 18/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Xuân K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Xuân K 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/02/2020. Án phí: Buộc bị cáo Đỗ Xuân K chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Xuân K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:23/2020/HS-ST
Ngày 18/5/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngu n Thị Du n

Ông Trịnh Văn Hùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân hu n Hậu Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Ngu n Thị Thú - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân hu n Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 theo Qu ết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2020 đối với:

Bị cáo Đỗ Xuân K; sinh ngày 22/9/1981 tại hu n L, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã Y, hu n H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Đỗ Ngọc Th và bà Ngu n Thị Tr; vợ: Lưu Thị Hh (đã l hôn) chưa có con; tiền sự; tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 09/8/2013 bị Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ra Qu ết định áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dưỡng về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 30/4/2015 chấp hành xong qu ết định. Ngà 17/02/2017 bị TAND thị xã B xử phạt 07 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” đến ngày 01/11/2017 chấp hành xong hình phạt tù; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngà 19/02/2020 đến na . Có mặt.

Bị hại: Chị Đặng Thị S, sinh năm 1973. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Ng, xã Đ, hu n L, tỉnh Thanh Hoá.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngu n Thị Tr, sinh năm 1954. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã Y, hu n H, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh Ngu n Đức A, sinh năm 1985. Có đơn xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Tiểu khu 3, thị trấn H, hu n Tr, tỉnh Thanh Hóa.

3. Chị Lê Thị Ng, sinh năm 1983. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Ng, xã Đ, hu n L, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11h ngày 16/02/2020 Đỗ Xuân K đi xe đạp từ nhà mình đến nhà chị Đặng Thị S ở thôn Ng, xã Đ, hu n L. Lúc nà khoảng 11h 30’, đến nơi K gọi “chị ơi” nhưng không có ai trả lời, quan sát thấ không có người, K phát hi n có 01 chiếc bình ắc qu của xe đạp đi n loại SKY-E BATTERY 12v – 12Ah màu xanh đang để ở hè nhà chị S. K liền đi lại lấ chiếc bình ắc qu bỏ vào giỏ xe của mình rồi đạp xe đến nhà chị Lê Thị Ng (làm nghề thu mua phế li u) cách nhà chị S khoảng 40m bán cho chị Lê Thị Ng với giá 60.000đ, sau đó K tiếp tục đạp xe qua lại cửa hàng nhà chị S và gọi “anh ơi, chị ơi” nhưng vẫn không thấ ai trả lời. K đi vào phòng khách tìm kiếm tài sản để trộm cắp, quan sát xung quanh thấ chiếc đi n thoại Samsung A10 màu đỏ của chị S đang để trên bàn uống nước. K đi lại lấ chiếc đi n thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra lấ xe đạp đi đến cửa hàng đi n thoại Trần D của anh Ngu n Đức A ở thị trấn H, hu n H bán cho anh Đức A với giá 1.100.000đ và đạp xe về nhà. Toàn bộ tài sản trên K đã tiêu sài cá nhân.

Ngày 19/02/2020 nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Đỗ Xuân K đã đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an hu n L đầu thú khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

Ngày 19/02/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ tại cửa hàng đi n thoại của anh Ngu n Đức A chiếc đi n thoại di động Samsung A10 màu đỏ. Ngà 20/02/2020 thu giữ 01 bình ắc qu nhãn hi u SKY-E BATTERY 12v – 12Ah màu xanh tại gia đình Lê Thị Ng.

Tại kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngà 21/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hu n L kết luận: 01 đi n thoại Sam sung A10 màu đỏ có giá 2.100.000 đồng, 01 bình ắc qu xe đạp đi n có giá 100.000 đồng.

Ngày 05/4/2020 cơ quan Công an đã trả lại cho chị Đặng Thị S toàn bộ các tài sản trên, Chị S không êu cầu K phải bồi thường gì thêm.

Đối với chị Lê Thị Ng đã mua của bị cáo 01 bình ắc qu xe đạp đi n, anh Ngu n Đức A đã mua của bị cáo 01 đi n thoại Samsung A10. Chị Ng và anh Đức A không êu cầu bị cáo trả lại số tiền mà bị cáo đã bán đi n thoại và bình ắc qu , do đó không xem xét.

Đối với chiếc xe đạp mà K đã dùng để đi trộm cắp tài sản, cơ quan Công an xác định chiếc xe trên của bà Ngu n Thị Tr (mẹ đẻ K) bà Tr không biết vi c K lấ xe để đi trộm cắp tài sản, do đó cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Tr.

Cáo trạng số 26/CT-VKSHL ngày 27/4/2020 của Vi n kiểm sát nhân dân hu n L, tỉnh Thanh Hóa đã tru tố Đỗ Xuân K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ qu ền công tố luận tội và tranh luận: Giữ ngu ên qu ết định tru tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân K phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã tru tố, đồng ý với luận tội của đại di n Vi n kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo cải tạo, sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, qu ết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an hu n L, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân hu n L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, tru tố đã thực hi n đúng về thẩm qu ền, trình tự, thủ tục qu định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, qu ết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, qu ết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Về tội danh: Vào khoảng 11h ngày 16/02/2020 Đỗ Xuân K đi xe đạp từ nhà mình đến nhà chị Đặng Thị S, quan sát thấ không có người, K phát hi n có 01 chiếc bình ắc qu của xe đạp đi n để ở hè nhà chị S. K liền đi lại lấ chiếc bình ắc qu bỏ vào giỏ xe của mình rồi đạp xe đến nhà chị Lê Thị Ng (làm nghề thu mua phế li u) bán với giá 60.000đ, sau đó K tiếp tục đạp xe qua lại cửa hàng nhà chị S vào phòng khách và phát hi n chiếc đi n thoại Samsung A10 màu đỏ của chị S đang để trên bàn uống nước. K đi lại lấ chiếc đi n thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra lấ xe đạp đi đến cửa hàng đi n thoại Trần D của anh Ngu n Đức A bán cho anh Đức A với giá 1.100.000đ

Tại kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngà 21/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự hu n Hậu Lộc kết luận: 01 đi n thoại Sam sung A10 màu đỏ có giá 2.100.000 đồng, 01 bình ắc qu xe đạp đi n có giá 100.000 đồng.

Như vậ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo Đỗ Xuân K đã đủ ếu tố cấu thành tội phạm của tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm, hình phạt được qu định và trừng trị tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án thì thấ : Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến qu ền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo v , xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gâ dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Với động cơ tư lợi muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, bị cáo lợi dụng chủ sở hữu vắng nhà đã chiếm đoạt tài sản, hành vi đó là ngu hiểm cho xã hội. Do đó phải xử lý nghiêm, có hình phạt phù hợp nhằm giáo dục bị cáo và giáo dục chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đầu thú. Do đó cần áp dụng các qu định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tạo điều ki n cho bị cáo ên tâm cải tạo tốt thể hi n chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Bị cáo có nhân thân không tốt, đã bị Tòa án xét xử về tội trộm cắp và đã đương nhiên được xóa án tích, nhưng khi qu ết định hình phạt cần xem xét đối với bị cáo và cần thiết cách l bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều ki n cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghi p không ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhi m dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi và trả cho bị hại, bị hại không có êu cầu gì nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp mi n án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qu định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH 14 ngà 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Xuân K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Xuân K 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/02/2020.

Án phí: Buộc bị cáo Đỗ Xuân K chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có qu ền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngà kể từ ngà tu ên án sơ thẩm. Bị hại, người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan có qu ền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngà kể từ ngà nhận được bản án hoặc niêm ết.

Cỡ chữ