vanban.org

Bản án 23/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 21/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Xuân T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù giam, thêi h¹n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/01/2020. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Xuân T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Xuân T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HS-ST
Ngày 21/4/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.

- Các hội thẩm nhân dân: 1, Ông Nguyễn Văn Hiển.

2, Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Trà Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2020/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/HSST-QĐ ngày 20/3/2020 đối với bị cáo:

Vũ Xuân T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 24/10/1988, tại xã Đ, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Vũ Văn L, sinh năm 1959, là thương binh loại A (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963 (đã chết).

Vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1990.

Con: Bị can có 2 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2020 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người chứng kiến:

1, Anh Vũ Văn T, sinh năm 1971

(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

2, Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1974

(Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn K, xã Đ, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Xuân T là đối tượng sử dụng ma túy, loại ma túy Heroine, dưới hình thức hít. Do có nhu cầu sử dụng ma túy và nghe một số bạn nghiện nói ở khu vực Cống Trắng, thành phố Thái Bình có người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao 1m70 bán ma túy (T không biết họ tên, địa chỉ của người này) nên khoảng hơn 8 giờ ngày 07/01/2020, T đi bộ từ nhà ra quốc lộ 10 thuộc địa phận xã Đ, huyện Đông Hưng sau đó đón xe buýt đi lên khu vực Cống trắng, thành phố Thái Bình tìm và gặp người đàn ông như mô tả. Gặp người này T nói “bán cho 200.000 đồng Heroine”, T lấy 200.000 đồng trong túi áo đưa cho người này, người này cầm tiền và đưa lại cho T 03 gói ma túy nhỏ, T cầm bỏ vào túi áo khoác bên trái đang mặc sau đó ra đón xe buýt đi về. Khi về đến quốc lộ 10 thuộc địa phận xã Đ, huyện Đông Hưng, Thảo xuống xe đi bộ về nhà. Khi đi đến trục đường thôn K, xã Đ thì bị lực lượng Công an huyện Đông Hưng phối hợp Công an xã Đ giữ lại do nghi có liên quan đến ma túy. Cơ quan Công an đã mời những người chứng kiến là anh Vũ Văn T, sinh năm 1971, trú tại: thôn L, xã Đ, huyện Đông Hưng và anh Vũ Văn Q, sinh năm 1974, trú tại: thôn K, xã Đ, huyện Đông Hưng cùng chứng kiến việc kiểm tra người T, thu giữ tại túi áo khoác bên trái đang mặc 3 gói nhỏ có kích thước khoảng (0,5x1)cm bên ngoài được gói bằng giấy trắng có các chữ và số màu nâu, mở ra bên trong có chất bột màu trắng dạng cục, T khai là Heroine vừa mua để sử dụng. Cơ quan Công an đã gói lại và niêm phong vào phong bì thư, sau đó đưa T về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đ lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng rồi dẫn giải T về trụ sở Công an huyện Đông Hưng để giải quyết.

Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Xuân T tại thôn K, xã Đ, huyện Đông Hưng không quản lý thu giữ gì.

Tại bản Kết luận giám định số 14/KLGĐ-PC09 ngày 08/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, kết luận: Mẫu gửi giám định (chất bột màu trắng dạng cục trong 3 gói) là ma tuý, loại Heroine (Hêrôin), có tổng khối lượng 0,2141 gam (Không phẩy hai nghìn bốn trăm bốn mươi mốt gam).

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 21/CT-VKSĐH ngày 05/3/2020 đã truy tố, hành vi của bị cáo Vũ Xuân T đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về áp dụng pháp luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị tuyên phạt bị cáo Vũ Xuân T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Ngoài ra còn đề nghị HĐXX giải quyết về vật chứng, án phí của vụ án.

Bị cáo Vũ Xuân T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các quy định của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Vũ Xuân T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 07/01/2020; Kết luận giám định số 14/KLGĐ-PC09 ngày 08/01/2020; Lời khai của người chứng kiến anh Vũ Văn T và anh Vũ Văn Q cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

[2.1] Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Xuân T đã có hành vi xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy nên vào hồi 09 giờ 45 phút ngày 07/01/2020 tại đường trục thôn K, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; Vũ Xuân T có hành vi tàng trữ trái phép 0,2141 gam (không phẩy hai nghìn một trăm bốn mươi mốt gam) Heroine với mục đích sử dụng bị Công an huyện Đông Hưng bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Vũ Xuân T đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. ........................................................”.

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Ma tuý còn là nguồn gốc phát sinh các loại bệnh tật ảnh hưởng đến giống nòi và thuần phong mỹ tục của dân tộc, kéo theo sự xuống cấp của đạo đức xã hội. Đặc biệt việc sử dụng ma túy tổng hợp gây ra sự hoảng sợ, lo lắng, ảo giác. Người nghiện sợ ánh sáng, ảo tưởng có người truy sát mình, do vậy không ra khỏi nhà, quên ăn uống là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác.

[2.3] Khi xem xét, cân nhắc hình phạt cần xem xét đến tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ:

- Bị cáo Vũ Xuân T không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bố bị cáo là thương binh loại A nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tại phiên tòa là phù hợp.

[2.4] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo Vũ Xuân T tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2.5] Trong vụ án này:

- Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Vũ Xân T khai mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực Cống trắng, thành phố Thái Bình. Chỉ có lời khai của bị cáo nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

- Nguồn gốc số tiền 200.000đồng bị cáo dùng mua ma túy do lao động mà có nên không truy thu.

[3] Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 0,1743 gam ma túy loại heroin hoàn lại sau giám định.

Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 06/3/2020.

[4] Về án phí: Bị cáo Vũ Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Xuân T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Vũ Xuân T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù giam, thêi h¹n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 07/01/2020.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Xuân T.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 0,1743 gam ma túy loại heroin hoàn lại sau giám định.

Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 06/3/2020.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Bị cáo Vũ Xuân Thảo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Xuân T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. N¬i nhËn:

Cỡ chữ