- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN KHẮC H CÙNG ĐB - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HS-ST Ngày: 22/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Do;
Bà Nguyễn Thị Chín.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Vương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. TRẦN KHẮC H; sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Làng Kt, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai; chỗ ở: Số 43 Lý Nam Đế, phường Tr, thành phố P, Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Khắc Lam (đã chết) và bà Trịnh Thị Trung; có vợ là Lê Thị Hương và 02 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2019 đến ngày 05/11/2019 được thay đổi biện pháp pháp ngăn chặn, hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. VI VĂN NH; sinh năm 1996 tại tỉnh Th; nơi ĐKHKTT: Thôn Chiềng Lau, xã Ban Công, huyện B, tỉnh Th; chỗ ở: Số 43 Lý Nam Đế, phường Tr, thành phố P, Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vi Văn Toan và bà Hà Thị Yêm; có vợ là Nguyễn Thị Ngọc Anh và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2019 đến nay. Có mặt.
3. TRẦN M THÀNH; sinh năm 1990 tại tỉnh Gia Lai; nơi ĐKHKTT: Thôn Hiền Sỹ, xã Phong Sơn, huyện Phong Đ, tỉnh TT Hu; chỗ ở hiện nay: Tổ 13, phường Hội Phú, thành phố P, Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần M Bốn (đã chết) và bà Hoàng Thị Liên; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2019 đến nay. Có mặt.
4. HÀ ANH M; sinh năm 1997 tại tỉnh Th; nơi ĐKHKTT: Thôn Chiềng Lau, xã Ban Công, huyện B, tỉnh Th; chỗ ở hiện nay: Số 43 Lý Nam Đế, phường Tr, thành phố P, Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Thúy và bà Hà Thị Điệp; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/9/2019 đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1972. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Có mặt.
2. Ông Huỳnh Tấn M, sinh năm 1989. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Vắng mặt.
3. Ông Huỳnh Tấn K, sinh năm 1964. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Vắng mặt.
4. Ông Huỳnh Thanh T, sinh năm 1994. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Vắng mặt.
5. Công ty cổ phần hợp tác vận tải An Nh. Trụ sở: Ngã tư Quảng Nghiệp, QL 1A, xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Đại diện theo ủy quyền: ông D, sinh năm 1973. Địa chỉ: 311 Lê Thánh Tôn, thành phố P, tỉnh Gia Lai (theo giấy ủy quyền ngày 15/6/2019). Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Ha, sinh năm 1982. Trú tại: Thôn Châu Giang, xã HNeng, huyện Đa, Gia Lai. Vắng mặt.
2. Ông Ca, sinh năm 1973. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Vắng mặt.
3. Bà Huỳnh Thị Kim L, sinh năm 1980. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Có mặt.
4. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1975. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Vắng mặt.
5. Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1968. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Có mặt.
6. Ông Lê Văn Sơn, sinh năm 1981. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Vắng mặt.
7. Ông Vũ Văn Quang, sinh năm 1993. Trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Vắng mặt.
8. Ông Nguyễn Sỹ L, sinh năm 1973. Trú tại: Làng Kt, xã Ko, huyện Đa, Gia Lai. Có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Người phiên dịch: Chị Vi Thị D, sinh năm 1987. Trú tại: TDP 5, thị trấn Đa, huyện Đa, Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ ngày 06/6/2019, anh Nguyễn Sỹ L đi kiểm tra vườn hồ tiêu của gia đình mình tại làng Kt, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai phát hiện cây hồ tiêu của gia đình bị hư hỏng do một số đối tượng (chưa xác định được lai lịch) cắt cây cạnh vườn của gia đình làm hư hỏng thì giữa anh Lân với số người cắt cây có lời qua tiếng lại với nhau, các đối tượng đe dọa đánh anh Lân. Do có mối quan hệ quen biết với nhau từ trước nên anh Nguyễn Sỹ L điện thoại cho TRẦN KHẮC H nói qua điện thoại: “Anh bị mấy người cắt cây làm hư hỏng cây hồ tiêu của anh, anh nói thì nó đòi đánh lại anh”. Sau khi nghe điện thoại, TRẦN KHẮC H rủ Trần M Thành, VI VĂN NH và Hà Anh M đến đánh lại số đối tượng đã hăm dọa đánh anh Lân thì tất cả đồng ý.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, Trần M Thành điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 77C- 142.43 chở TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Hà Anh M và Vi Văn Thuấn mang theo 02 đoạn tuýp sắt và 02 bình xịt hơi cay đi từ thành phố P, tỉnh Gia Lai đến nhà anh Nguyễn Sỹ L tại làng Kt, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai. Khi đến nhà anh Lân thì các đối tượng đe dọa đánh anh Lân trước đó đã bỏ đi nên TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH và Hà Anh M vào nhà anh Lân ngồi uống bia, còn Vi Văn Thuấn do có công việc nên đi nhờ xe của người dân về lại thành phố P trước. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày TRẦN KHẮC H điều khiển xe ô tô BKS 77C- 142.43 chở Nhật, Thành và M đi đến nhà anh Nguyễn Văn D (trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai) chơi, trong lúc tất cả ngồi uống nước trước nhà anh Dương thì Hà nhìn thấy anh Huỳnh Văn S (trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai) đứng trước nhà anh Dương. Hà nói cho Nhật, Thành và M biết trước đây giữa Hà và Sơn có mâu thuẫn với nhau trong làm ăn, anh Sơn đã bỏ cát vào máy xe ô tô của Hà. Sau khi nghe xong thì Nhật hỏi Hà: “Giờ sao anh?”, Hà trả lời: “Thích thì nhích” (tức là thích thì đánh). Nghe thấy Hà nói vậy thì Nhật và Thành đi ra ngoài gặp anh Sơn, Nhật dùng tay đánh vào mặt anh Sơn, thì anh Sơn bỏ chạy về nhà lấy một con dao rựa đi ra đứng phía trước nhà của mình chửi nhóm của Hà; Nhật nhìn thấy anh Sơn trên tay cầm dao nên Nhật chạy vào phía bên hông nhà của anh Dương nhặt một đoạn ống tuýp sắt và nhặt một cục đá ở ven đường; M chạy ra xe ô tô lấy 01 đoạn tuýp sắt và Thành cầm bình xịt hơi cay cùng chạy đến để đánh anh Sơn. Anh Sơn thấy Nhật, Thành và M cầm hung khí chạy tới nên bỏ chạy vào trong nhà và chạy trốn ra phía sau vườn cà phê của gia đình để trốn; Nhật, Thành và M chạy vào trong nhà của anh Sơn tìm, thấy cửa phòng ngủ của con gái anh Sơn khóa. Do nghĩ anh Sơn trốn trong phòng nên Nhật dùng cục đá đập vỡ kính cửa phòng ngủ, Thành cầm bình xịt hơi cay xịt vào trong phòng nhưng không thấy anh Sơn thì tất cả đi ra ngoài. Nhật sử dụng cây tuýp sắt đập rách tấm tôn che tiệm cắt tóc và bảng hiệu quảng cáo cắt tóc phía trước nhà của anh Sơn. Trong khi Nhật, M và Thành chạy vào trong nhà của anh Sơn thì TRẦN KHẮC H đứng ở ngoài xe ô tô chờ, sau đó tất cả lên xe ô tô đi về hướng xã Tân Bình, huyện Đa.
Sau khi bỏ đi được một đoạn (khoảng 04 km đến 05 km) thì TRẦN KHẮC H nói Trần M Thành điều khiển xe ô tô quay lại đến nhà anh Sơn để tìm đánh anh Sơn. Khi đến trước nhà anh Sơn, các bị cáo dừng đỗ xe ô tô ngoài đường phía trước nhà anh Sơn; Hà cầm tuýp sắt, Thành cầm bình hơi cay, M cầm tuýp sắt và Nhật cầm tuýp sắt xông vào nhà của Sơn, tìm anh Sơn để đánh nhưng không thấy thì các bị cáo đi ra đường để về thì gặp Huỳnh Tấn M (trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai đi làm về (cháu của Huỳnh Văn S) nên nhóm của Hà đuổi đánh Mến thì Mến bỏ chạy về nhà lấy dao thì gặp ông Huỳnh Tấn K (trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai là bố của Mến); Huỳnh Thanh T (trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai là em trai Mến) thấy nhóm của Hà đuổi đánh Mến nên anh Huỳnh Văn S cùng ông Huỳnh Tấn K, Huỳnh Thanh T và Huỳnh Tấn M cầm dao, rựa chạy ra trước cổng nhà ông Kết để phòng thủ, không cho nhóm của Hà tấn công. Nhóm của TRẦN KHẮC H chặn đường không cho người dân đi lại; hai bên nhặt đá ném qua lại nhau, chửi bới và la ó trên đường liên xã, gây ách tắc, cản trở giao thông trên 20 phút; gây mất trật tự trị an trên địa bàn làm náo loạn tại khu dân cư. Sau đó, có anh Ha là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ko và Công an xã đến đến can ngăn, một lúc sau thì Hà cùng với Nhật, Thành và M lên xe về lại thành phố P đi trên đường liên xã Ko đi xã Tân Bình, những người khác đi về. Khi xe ô tô BKS 77C-142.43 do Trần M Thành điều khiển trên xe có TRẦN KHẮC H ngồi ở ghế phụ, Nhật và M ngồi phía sau đi đến đoạn dốc thuộc làng Ktu, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai thì gặp xe ô tô tải BKS 81C-057.27 trên xe có Huỳnh Văn Thành (sinh năm 1983, trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai) điều khiển đi cùng trên xe có Huỳnh Văn Nghĩa (sinh năm 1974, trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai), 02 người con của Huỳnh Văn Thành và một số người nữa chưa xác định được. Huỳnh Văn Thành và Huỳnh Văn Nghĩa là em trai của Huỳnh Văn S, Nghĩa và Thành biết được nội dung vụ việc nhóm của TRẦN KHẮC H đến đuổi đánh và phá đồ đạc nhà anh Huỳnh Văn S nên Huỳnh Văn Thành đã điều khiển xe ô tô tải BKS 81C-057.27 dừng, chặn giữa đường không cho xe ô tô BKS 77C-142.43 do Trần M Thành điều khiển đi qua. Một lúc, thì có Lưu Công Vũ (sinh năm 1999, trú tại: Làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai) điều khiển xe ô tô tải BKS 81C-057.27 tông thẳng vào xe ô tô bán tải BKS 77C-142.43 làm xe ô tô bán tải BKS 77C-142.43 chết máy và lùi lại phía sau đường. Tại đây, Huỳnh Văn Nghĩa cùng một số đối tượng khác dùng dao, rựa đánh chém nhóm của TRẦN KHẮC H và đập vỡ kính cửa phía sau bên trái xe ô tô BKS 77C-142.43. Lợi dụng nhóm của Huỳnh Văn Nghĩa sơ hở nên nhóm của TRẦN KHẮC H mở cửa xe ô tô bỏ chạy vào vườn cà phê trốn. Hậu quả làm xe ô tô bán tải BKS 77C-142.43 hư hỏng thiệt hại trị giá là 164.627.000 đồng, xe ô tô tải BKS 81C-027.57 bị hư hỏng thiệt hại trị giá là 9.700.000 đồng; TRẦN KHẮC H bị Huỳnh Văn Nghĩa chém tổn hại 12% sức khỏe.
Sau khi xảy ra sự việc ngày 06/6/2019 anh Huỳnh Văn S làm đơn tố cáo TRẦN KHẮC H cùng đồng phạm có hành vi đập vỡ 01 ti vi nhãn hiệu Sam Sung 42 inch, 01 cửa kính phòng ngủ, đập rách 01 tấm tôn tường và 01 bảng hiệu quảng cáo.
Vật chứng thu giữ gồm:
- Xe ô tô bán tải BKS 77C- 142.43; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật xe ô tô BKS 77C- 14243; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 77C-142.43 (bản phô tô- công chứng);
- 01 Xe ô tô tải BKS 81C-027.57; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 81C-027.57;
- 02 Đoạn tuýp sắt, mỗi đoạn dài 105cm, đường kính 2,8cm; 01 Đoạn tuýp sắt dài 95cm, đường kính 3,2cm, một đầu được hàn một đoạn sát tròn có kích thước 2,2cm, đường kính 05cm; 01 Bình xịt hơi cay nhãn hiệu Nato (đã qua sử dụng) và 01 bình xịt hơi cay nhãn hiệu BX4 (đã qua sử dụng).
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu SamSungA7;
- 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, số Imei 1: 868125040732519; số Imei 2: 868125040732501;
- 01 Ti vi nhãn hiệu Sam Sung 42 inch bị hư hỏng màn hình tạm giữ của anh Huỳnh Văn S;
- 01 Dao rựa dài 58cm, phần cán bằng tre kích thước (28x03)cm, phần lưỡi bằng sắt, mũi dao bằng có kích thước (30x4,2)cm và 01 con dao quắn dài 65cm, phần cán bằng tre kích thước (33x03)cm, phần lưỡi bằng sắt, mũi cong kích thước (32x04)cm do anh Huỳnh Thanh T giao nộp;
- 01 Con dao dài 94cm, cán dao làm bằng le, dài 62cm; lưỡi dao dài 32cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao 5,5cm, chỗ hẹp nhất lưỡi dao 4,2cm do Cơ quan điều tra thu giữ tại thùng dầu bên trái của xe ô tô tải BKS 81C-027.57 sau khi sự việc xảy ra;
- 01 Đĩa CD nội dung ghi lại cảnh trong nhà anh Huỳnh Văn S sau khi nhóm TRẦN KHẮC H đi khỏi nhà anh Sơn lần thứ hai;
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 113/HĐ-ĐG ngày 15/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đa kết luận: Tấm kính phòng ngủ, bảng hiệu quảng cáo và tấm tôn, trị giá tài sản bị thiệt hại là 1.732.000 đồng; đối với ti vi Sam Sung 42 inch bị hư hỏng có trị giá là 8.400.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.
Tại bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 14 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M về tội “Gây rối trật tự công cộng", quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình sự:
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: TRẦN KHẮC H; VI VĂN NH; Trần M Thành và Hà Anh M;
Xử phạt bị cáo TRẦN KHẮC H từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Xử phạt bị cáo VI VĂN NH từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Trần M Thành từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Xử phạt bị cáo Hà Anh M từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Các bị cáo trình bày ý kiến về hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là quá nặng so với hành vi các bị cáo thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị về hình phạt đối với các bị cáo và không có ý kiến tranh luận gì.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đa, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Vào khoảng 17 giờ 15 phút ngày 06/6/2019 trên đường liên xã thuộc làng Kóp, xã Ko, huyện Đa, tỉnh Gia Lai, TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M đã có hành vi dùng tuýp sắt (hung khí), bình xịt hơi cay chặn đường, la ó, chửi bới, đuổi đánh nhau trên đường liên xã, làm cản trở, ách tắc giao thông đường bộ trong khoảng thời gian trên 20 phút. Hành vi của các bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân.
Như vậy, hành vi của các bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng" quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đa đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Trong quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình các bị TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương; gia đình liệt sỹ; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Văn S xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Đây là vụ án có nhiều bị cáo cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, không có sự câu kết chặt chẽ nên là vụ án đồng phạm thuộc trường hợp giản đơn.
Đối với bị cáo TRẦN KHẮC H là người khởi xướng việc phạm tội quá trình phạm tội rất tích cực nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.
Các bị cáo VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M là đồng phạm trong vụ án, tham gia trong vụ án với vai trò là người thực hành, quá trình phạm tội cũng rất tích cực nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi của các bị cáo đã gây ra.
Hành vi của các bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Vật chứng thu giữ được:
Đối với xe ô tô bán tải BKS 77C-142.43 thuộc sở hữu của Công ty cổ phần hợp tác vận tải An Nh được Công ty giao cho ông D quản lý sử dụng. Trước ngày 06/6/2019 anh Dư đã cho TRẦN KHẮC H mượn xe ô tô BKS 77C- 142.43 để sử dụng. Việc TRẦN KHẮC H sử dụng xe ô tô BKS 77C-142.43 làm phương tiện phạm tội anh Dư và Công ty cổ phần hợp tác vận tải An Nh không biết nên không có căn cứ để tịch thu đối với xe ô tô trên. Tuy nhiên, xe ô tô và các giấy tờ liên quan đến xe ô tô trên có liên quan đến vụ án Cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra ngày 06/6/2019 nên chuyển để xử lý trong vụ án Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe ô tô tải BKS 81C-027.57 thuộc sở hữu của Công ty cổ phần xi măng Gia Lai, Huỳnh Văn Thành là người làm thuê cho Công ty. Việc Lưu Công Vũ điều khiển xe ô tô tông vào xe ô tô bán tải BKS 77C-142.43 thì Công ty cổ phần xi măng Gia Lai không biết. Tuy nhiên, xe ô tô và các giấy tờ liên quan đến xe ô tô trên có liên quan đến vụ án Cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra ngày 06/6/2019 nên chuyển để xử lý trong vụ án Cố ý làm hư hỏng tài sản theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung A7 do chị Huỳnh Thị L giao nộp thuộc sở hữu của TRẦN KHẮC H, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội, nên Cơ quan điều tra ra Quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu là có cơ sở.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím do Cơ quan điều tra thu giữ thuộc sở hữu của Hà Anh M, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc phạm tội, nên Cơ quan điều tra ra Quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu là có cơ sở.
Đối với ti vi nhãn hiệu Sam Sung 42 inch bị hư hỏng màn hình thuộc sở hữu của anh Huỳnh Văn S, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở.
Đối với 02 đoạn tuýp sắt, mỗi đoạn dài 105cm, đường kính 2,8cm; 01 đoạn tuýp sắt dài 95cm, đường kính 3,2cm, một đầu được hàn một đoạn sát tròn có kích thước 2,2cm, đường kính 05cm; 01 bình xịt hơi cay nhãn hiệu Nato (đã qua sử dụng) và 01 bình xịt hơi cay nhãn hiệu BX4 (đã qua sử dụng). Xét đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 dao rựa dài 58cm, phần cán bằng tre kích thước (28x03)cm, phần lưỡi bằng sắt, mũi dao bằng có kích thước (30x4,2)cm và 01 con dao quắn dài 65cm, phần cán bằng tre kích thước (33x03)cm, phần lưỡi bằng sắt, mũi cong kích thước (32x04)cm do anh Huỳnh Thanh T giao nộp, đây là công cụ anh Tâm và anh Mến sử dụng để phòng vệ khi bị TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M tấn công. Xét đây là vật chứng không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 con dao dài 94cm, cán dao làm bằng le, dài 62cm, lưỡi dao dài 32cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao 5,5cm, chỗ hẹp nhất lưỡi dao 4,2cm có liên quan đến vụ án Cố ý gây thương tích mà Huỳnh Văn Nghĩa chém gây thương tích cho TRẦN KHẮC H nên chuyển vụ án Cố ý gây thương tích để xử lý theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về các vấn đề khác:
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Về con người, sự việc liên quan:
Đối với ông Huỳnh Tấn K, anh Huỳnh Tấn M và anh Huỳnh Thanh T là những người có quan hệ ruột thịt với ông Huỳnh Văn S, sau khi bị TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M đuổi đánh anh Sơn và đuổi đánh anh Mến thì anh Huỳnh Văn S, ông Huỳnh Tấn K, anh Huỳnh Tấn M và anh Huỳnh Thanh T đã có hành vi sử dụng dao, rựa với mục đích để phòng vệ nên hành vi của anh Huỳnh Văn S, ông Huỳnh Tấn K, anh Huỳnh Tấn M và anh Huỳnh Thanh T không cấu thành tội phạm nên không xử lý là có cơ sở.
Đối với VI VĂN NH và Trần M Thành đã có hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản của gia đình anh Huỳnh Văn S gồm: Tấm kính phòng ngủ, bảng hiệu quảng cáo và tấm tôn tường quán, trị giá tài sản bị thiệt hại là 1.732.000 đồng nên chưa đủ căn cứ để xử lý về hình sự đối với VI VĂN NH và Trần M Thành, Công an huyện Đa đã ra Quyết định xử phạt hành chính là đúng theo quy định pháp luật; đối với tài sản bị thiệt hại trên giữa các bị cáo VI VĂN NH, Trần M Thành và anh Huỳnh Văn S tự nguyện thỏa thuận giải quyết xong về dân sự, anh Sơn không có ý kiến gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với chiếc ti vi nhãn hiệu Sam Sung 42 inch của gia đình anh Huỳnh Văn S, quá trình điều tra chưa có căn cứ xác định người nào đã có hành vi làm vỡ màn hình ti vi nên chưa có cơ sở để xử lý, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đa tiếp tục điều tra làm rõ xử lý theo quy định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản là xe ô tô bán tải BKS 77C-142.43 và xe ô tô tải BKS 81C-027.57, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đa đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong vụ án khác để xử lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi Cố ý gây thương tích cho TRẦN KHẮC H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đa đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong vụ án khác để xử lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với con dao mà ông Huỳnh Tấn K sử dụng để phòng vệ khi bị TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M tấn công, ông Kết đã làm mất nên không thu giữ được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: TRẦN KHẮC H; VI VĂN NH; Trần M Thành và Hà Anh M;
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo TRẦN KHẮC H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ đi thời hạn tạm giam (từ ngày 09/9/2019 đến ngày 05/11/2019).
Xử phạt bị cáo VI VĂN NH 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 21/8/2019.
Xử phạt bị cáo Trần M Thành 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 21/8/2019.
Xử phạt bị cáo Hà Anh M 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 05/9/2019.
3. Về xử lý vật chứng:
Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với:
02 Đoạn tuýp sắt, mỗi đoạn dài 105cm, đường kính 2,8cm;
01 Đoạn tuýp sắt dài 95cm, đường kính 3,2cm, một đầu được hàn một đoạn sát tròn có kích thước 2,2cm, đường kính 05cm;
01 Bình xịt hơi cay nhãn hiệu Nato (đã qua sử dụng);
01 Bình xịt hơi cay nhãn hiệu BX4 (đã qua sử dụng);
01 Dao rựa dài 58cm, phần cán bằng tre kích thước (28x03)cm, phần lưỡi bằng sắt, mũi dao bằng có kích thước (30x4,2)cm;
01 Con dao quắn dài 65cm, phần cán bằng tre kích thước (33x03)cm, phần lưỡi bằng sắt, mũi cong kích thước (32x04)cm;
Theo Biên bản V/v giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/7/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đa và Công an huyện Đa, tỉnh Gia Lai.
4. Về án phí:
Án phí hình sự: TRẦN KHẮC H, VI VĂN NH, Trần M Thành và Hà Anh M mỗi bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/7/2020) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai; - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai; - Công an huyện Đa; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đa; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đa; - Các bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ/VT. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Thơ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |