- Tranh chấp gì? án hình sự — "Siu Duy Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Siu Duy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ TỈNH L ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HS-ST Ngày: 24/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CĐ, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Kim Sơn
Ông Nguyễn Ngọc Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Lợi - Kiểm sát viên sơ cấp.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Siu Duy Q, sinh năm: 1985; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký nhân khẩu tH trú và chỗ ở: Số 182/120, đường Chiến Lược, khu phố 8, pH A, quận BT, thành phố H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Con ông Siu Ly LL (đã chết) và bà: Trần A LL.
- Tiền án: Tại Bản án số 224/2016/HSST ngày 16/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2017, nộp án phí hình sự sơ thẩm ngày 05/6/2020.
- Tiền sự: Tại Quyết định 298/QĐTA ngày 12/09/2017, Tòa án nhân dân quận 8, Tp H quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 20 tháng.
- Nhân thân:
+ Ngày 28/01/2010 bị UBND quận BT, Tp. H ra quyết định số 1208/QĐ-UBND về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
+ Ngày 27/9/2012, bị UBND quận BT, Tp. H ra quyết định số 7391/QĐ-UBND về việc đưa người vào cơ sở chữa bệnh thời hạn 24 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/07/2020 cho đến nay (có mặt).
Bị hại:
1/ Anh Trương Sơn L, sinh năm: 1988 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: Khu vực Phúc Lộc 3, pH TH, quận TN, thành phố CT.
2/ Anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1970 ( Vắng mặt);
3/ Chị Lê Thị Ch, sinh năm: 1969 ( Vắng mặt);
Cùng trú tại: ấp LT, xã LTr, huyện C, tỉnh L.
Người có Q lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình H, sinh năm: 1968 (Vắng mặt);
Địa chỉ: C14/3, khu phố 3, thị trấn TT, huyên B, thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi của bị cáo: Khoảng 11 giờ ngày 15/11/2019, Siu Duy Q nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đi bộ từ phòng trọ ở ấp LT, xã LTr, huyện C, đi ngang qua nhà trọ Ngọc Thủy ngụ cùng ấp. Q phát hiện có một xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu tím, biển số 62V1 – 0399 thuộc sở hữu của anh Trương Sơn L đang dựng ở lối đi vào phòng trọ, quan sát không thấy có ai trông coi nên Q đi vào dẫn xe mô tô ra ngoài, do xe không có sử dụng chìa khóa, rồi lên xe nổ máy tẩu thoát. Q điều khiển xe trộm được đến vựa ve chai của ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1968, cư ngụ: Số C14/3, Khu phố 3, thị trấn TT, huyện B, Tp. H bán được số tiền 600.000 đồng. Bán được xe, Q đón xe buýt đến đoạn đường Nguyễn Văn Linh thuộc pH 4, Quận 8, Tp. H mua ma túy của người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) giá 500.000 đồng sử dụng, còn lại 100.000 đồng tiêu xài cá nhân.
Đến khoảng 06 giờ ngày 22/11/2019, Siu Duy Q đi bộ ngang qua nhà trọ của ông Nguyễn Thiện Tâm thuộc ấp LT, xã LTr. Q phát hiện một xe mô tô nhãn hiệu Violet, màu xanh, biển số 66M1 – 151.82 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn B đang dựng ở đầu hẻm vào nhà trọ, không người trông coi nên Q nảy sinh ý định chiếm đoạt xe. Q đi vào dẫn xe mô tô nêu trên ra đường được khoảng 100m thì bị người dân phát hiện truy hô, bắt giữ và trình báo Công an xã LTr.
Tại bản kết luận số 01/KL-HĐĐGTS ngày 07/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát số 66M1 – 151.82 có giá trị là 2.450.000 đồng.
Tại bản kết luận số 03/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát số 62V1- 0399 có giá trị là 5.010.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Siu Duy Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo khai: Do không có tiền mua ma túy sử dụng nên vào tháng 11/2019, trên địa bàn ấp LT, xã LTr, huyện C, Siu Duy Q lợi dụng sơ hở của anh Trương Sơn L và ông Nguyễn Văn B trong quản lý tài sản đã 02 lần lén lút lấy cắp 02 xe mô tô của anh Trương Sơn L và ông Nguyễn Văn B. Bị cáo bị truy cứu về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan sai. Bị cáo không có ý kiến về Kết luận định giá tài sản; Lời khai của những người bị hại và lời khai của người có Q lợi – nghĩa vụ liên quan vắng mặt mà Hội đồng xét xử công bố tại phiên tòa. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép.
Người bị hại anh Trương Sơn L, ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị Ch vắng mặt nhưng có lời trình bày tại Cơ quan cảnh sát điều tra: phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, phù hợp với diễn biến sự việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi tH gì thêm.
Người có Q lợi – nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đình H không yêu cầu bị cáo hoàn trả 600.000đồng tiền mua xe mô tô biển kiểm soát số 66M1 – 151.82.
Bản Cáo trạng số 18/CT-VKSCĐ ngày 06/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh L truy tố bị cáo Siu Duy Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ Q công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Siu Duy Q đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Siu Duy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Siu Duy Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Đề nghị miễn phạt tiền theo khoản 5 Điều 173của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi tH gì thêm. Anh Nguyễn Đình H không yêu cầu bị cáo hoàn trả 600.000 đồng tiền mua xe mô tô biển kiểm soát số 66M1 – 151.82 nên không đề cập.
Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng: Bị cáo không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét nội dung vụ án: Do không có tiền mua ma túy sử dụng nên vào tháng 11/2019, trên địa bàn ấp LT, xã LTr, huyện C, Siu Duy Q đã lợi dụng sơ hở của anh Trương Sơn L và ông Nguyễn Văn B trong quản lý tài sản đã 02 lần vào thời điểm ban ngày lén lút lấy cắp 02 xe mô tô các loại.
Tại bản kết luận số 01/KL-HĐĐGTS ngày 07/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát số 66M1 – 151.82 có giá trị là 2.450.000 đồng
Tại bản kết luận số 03/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát số 62V1- 0399 có giá trị là 5.010.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét thấy truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh L đối với bị cáo là có căn cứ. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ Q công tố tại phiên tòa, tuyên bố các bị cáo Siu Duy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên và tái phạm, được quy định tại các điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được trả lại cho bị hại, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét hình phạt đối với bị cáo:
Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người bị hại; tác động xấu đến nếp sống văn minh lành mạnh; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là một thanh niên có sức khỏe, đáng lẽ bị cáo chăm chỉ lao động để phục vụ nhu cầu bản thân, chăm lo cho gia đình, góp phần ổn định xã hội, gìn giữ an ninh trật tự chung. Nhưng bị cáo lại thực hiện những hành vi mà pháp luật nghiêm cấm, trái với các chuẩn mực đạo đức xã hội; bị cáo muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động; trộm cắp tài sản có được từ công sức lao động vất vả của người khác; nhân thân xấu. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm mới đủ sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh công bằng của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Với tính chất hành vi, khả năng nhận thức của bị cáo, mức độ hậu quả mà bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục.
Xét hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên miễn phạt tiền theo quy định tại khoản 5 các Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi tH gì thêm. Anh Nguyễn Đình H không yêu cầu bị cáo hoàn trả 600.000 đồng tiền mua xe mô tô biển kiểm soát số 66M1 – 151.82 nên không đề cập.
Đối với anh Nguyễn Đình H mua xe mô tô biển kiểm soát số 66M1 – 151.82 nhưng không biết nguồn gốc tài sản do bị cáo Q trộm nên không xem xét xử lý hình sự là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Siu Duy Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào Điều 135; Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333; Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tH vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố: Bị cáo Siu Duy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Siu Duy Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/7/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo Siu Duy Q 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Miễn phạt tiền cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Bị cáo Siu Duy Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.
Về Q kháng cáo: Bị cáo được Q kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người liên quan vắng mặt được Q kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được Tòa án niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đựơc thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được Q thoả thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
- Người bị hại;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người bào chữa (Nếu có);
- Người có QLNVLQ (Nếu có);
- VKSND huyện C;
- VKSND tỉnh L;
- Cơ quan CSĐT CA huyện C;
- Nhà tạm giữ Công an huyện C;
- Cơ quan Thi hành án Hình sự;
- Cơ quan Thi hành án Dân sự;
- Lưu: Án văn, Hồ sơ vụ án;
HUỲNH HỮU NGHĨA
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của
Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông tH thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của
Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành Q công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên tH gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký tH trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th́ ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ Q lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ Q lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ Q lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |