vanban.org

Bản án 23/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23 /2020/ HNGĐ-ST
Ngày: 10/12/2020.
V/v tranh chấp về ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hoài Quốc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Văn Quen

2. Bà Trần Lệ Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh, Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 12 năm 2020, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 218/2020/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2020, về việc “Tranh chấp về ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ch sinh năm 1969. có mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn MA sinh năm 1973. có đơn xin xét xử vắng mặt

Cùng địa chỉ: ấp 15, xã LH, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ch trình bày: bà Ch và ông Nguyễn Văn MA tự nguyện tiến tới đám cưới vào năm 1995 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LH, huyện DHi (Nay Ủy ban nhân dân xã LH, thị xã DH) vào năm 2002. Sau khi kết hôn bà Ch và ông MA sống chung tại ấp 15, xã LH, huyện DH (nay là ấp 15, xã LH, thị xã DH). Trong quá trình sống chung bà Ch và ông MA có 01 người con chung tên Dương Hoàng Nam sinh ngày 13-3-1994. Cuộc sống giữa bà Chinh và ông MA hạnh phúc đến năm 2019 thì giữa bà Ch và ông MA nảy sinh mâu thuẩn từ chuyện gia đình đến chuyện kinh tế, ông MA uống rượu về đánh đập và chửi bới bà Ch. bà Ch và ông MA không thể hòa giải được nên bà Ch đã ly thân với ông MA từ đó cho đến nay, trong quá trình ly thân bà Ch và ông MA cũng không hòa giải để đoàn tụ được. Nay bà Ch cho rằng hạnh phúc gia đình không còn nên làm đơn yêu cầu ly hôn với ông MA, về con chung có 01 người con chung trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết

Phía bị đơn Ông Nguyễn Văn MA có đơn xin xét xử vắng mặt trình bày như sau: Ông MA thống nhất lời trình bày của bà Ch về quan hệ hôn nhân giữa ông MA với bà Ch cũng như thống nhất mâu thuẩn mà bà Ch trình bày, tuy nhiên ông MA không đồng ý ly hôn với bà Ch, ông MA cho rằng Tòa án cứ đi xác minh thực tế và giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối con chung ông MA thống nhất lời trình bày của bà Ch, do người con này trên 18 tuổi nên ông MA không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy việc thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ và đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ theo trình tự, thủ tục, quyết định đưa vụ án ra xét xử và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn; cấp tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và thư ký: Tại phiên tòa hôm nay, hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ về nguyên tắc cơ bản khi giải quyết vụ án, thành phần Hội đồng xét xử và thư ký tòa án không thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

-Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ch đối với ông Nguyễn Văn MA là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này. Con chung có 01 người tên Dương Hoàng NA sinh ngày 13-3-1994 trên 18 tuổi đã trưởng thành, về tài sản chung, nợ chung bà Ch và ông MA không yêu cầu nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét. Ngoài ra vị kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà Ch chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

[1] Xét thấy đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ch có nội dung yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn MA là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét thấy bà Ch yêu cầu ly hôn với ông MA trong khi ông MA có địa chỉ cư trú tại ấp 15, xã LH, thị xã DH, tỉnh Trà Vinh, do đó theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải.

[3] Xét việc ông Nguyễn Văn MA có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông MA.

[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ch. Hội đồng xét xử xét thấy bà Ch và ông MA tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân giữa bà Ch và ông MA là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Ch và ông MA xuất phát từ việc mâu thuẩn trong gia đình và về kinh tế nhưng bà Ch và ông MA hòa giải không được nên bà Ch không còn sống chung với ông MA từ năm 2019 đến nay. hơn nữa trong quá trình ly thân giữa bà Ch và ông MA cũng không hòa giải để đoàn tụ, trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án ông MA không có thiện chí đoàn tụ thể hiện việc ông MA xin được vắng mặt tại các phiên hòa giải và xét xử của Tòa án. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Ch và ông MA đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ch, cho bà Ch được ly hôn với ông MA.

[5] Về con chung có 01 người con chung tên Dương Hoàng NA sinh ngày 13-3-1994 trên 18 tuổi, bà Ch và ông MA không yêu cầu nên không xem xét.

[6] Tài sản chung, nợ chung: bà Ch và ông MA không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ch là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ch phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào khoản 1 Ñieàu 28, điểm a khoản 1 Ñieàu 39, Ñieàu 147, khoản 1 Điều 227 Boä luaät toá tuïng daân sö.ï

Áp dụng các Ñieàu 19, 51,56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ch. Cho bà Ch ly hôn với ông Nguyễn Văn MA.

2. Về con chung: 01 người tên Dương Hoàng NA sinh ngày 13-3-1994 trên 18 tuổi không có yêu cầu nên không xem xét.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Ch chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001930, ngày 10-11-2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải, do đó bà Ch đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ