vanban.org

Bản án 23/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thùy Duy M.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thùy Duy M được ly hôn với ông Thái Thanh T. Về con chung: Giao con chung tên Thái Gia H, sinh ngày 16/10/2009 và Thái Gia B, sinh ngày 09/02/2014 cho bà Lê Thùy Duy M trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà M về việc không yêu cầu ông Thái Thanh T cấp dưỡng nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thùy Duy M - Thái Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thùy Duy M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2020.
V/v:“Xin ly hôn và tranh chấp nuôi
con khi ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà: Trần Thị Lệ.

2. Ông: Nguyễn Quốc Tiến.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 51/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2020 về việc “Xin ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2020/QĐXX-ST ngày 04 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thùy Duy M, sinh năm 1988. (Có mặt)

Địa chỉ: Số 88/9 đường Chu Văn An, khu phố 3, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Ông Thái Thanh T, sinh năm 1986 (Có đơn xin vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Số 88/9 đường Chu Văn An, khu phố 3, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở hiện nay: Số 09 đường Phùng Khắc Khoan, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa, nguyên đơn bà Lê Thùy Duy M trình bày:

Bà Lê Thùy Duy M và ông Thái Thanh T tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vào ngày 09/12/2013. Cuộc sống hôn nhân hạnh phúc đến tháng 5/2016 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất hòa và đã sống ly thân từ tháng 4/2019 cho đến nay, mặc dù đã hàn gắn nhiều lần nhưng vẫn không thành công.

Nay bà M xin ly hôn ông T với lý do: Vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, bất đồng quan điểm và không thể hòa hợp. Nay thấy rằng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục nên bà M yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà M xác nhận giữa bà và ông T quá trình chung sống có 02 người con chung tên Thái Gia H, sinh ngày 16/10/2009 và Thái Gia B, sinh ngày 09/02/2014, hiện nay đang sống cùng với mẹ. Bà M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung và xác định đủ điều kiện tự nuôi con, nên không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thùy Duy M vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Thái Thanh T. Nguyện vọng được nuôi 02 người con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận không có tài sản chung và cam kết không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa, bị đơn ông Thái Thanh T có đơn xin vắng mặt, nhưng tại Bảng tự khai đề ngày 16/01/2020, ông Thái Thanh T đã có ý kiến xác nhận:

Ông T xác nhận tình trạng hôn nhân và mâu thuẫn trong hôn nhân đúng như đơn khởi kiện bà M đã trình bày và ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà M.

- Về con chung: Ông T xác nhận giữa ông và bà M quá trình chung sống có 02 người con chung tên Thái Gia H, sinh ngày 16/10/2009 và Thái Gia B, sinh ngày 09/02/2014. Ông T đồng ý giao 02 người con chung cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng và ông T không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông T xác nhận không có tài sản chung và cam kết không có nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lê Thùy Duy M khởi kiện xin ly hôn và tranh chấp nuôi con chung với ông Thái Thanh T có nơi đăng ký thường trú tại địa chỉ số 88/9 đường Chu Văn An, khu phố 3, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và chỗ ở hiện nay tại số 09 đường Phùng Khắc Khoan, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điêm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông Thái Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thùy Duy M và ông Thái Thanh T tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được UBND phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/12/2013, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà M khởi kiện xin ly hôn ông T với lý do: Vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, bất đồng quan điểm và không thể hòa hợp. Bà M và ông T đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành nên cũng đã sống ly thân từ tháng 4/2019 đến nay.

Bị đơn ông Thái Thanh T đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, tuy vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ kiện nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt và đã có ý kiến nộp cho Tòa án. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông T đã được Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng ông T vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, bà M xác định giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, ông T có ý kiến đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà M. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thùy Duy M.

Về con chung: Bà Lê Thùy Duy M và ông Thái Thanh T đều xác định giữa ông bà có 02 người con chung tên Thái Gia H, sinh ngày 16/10/2009 và Thái Gia B, sinh ngày 09/02/2014, hiện nay đều đang sống cùng với bà M. Bà M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung và xác định đủ điều kiện, khả năng để nuôi con.

Xét các con chung đang sống cùng với bà M và ông T đã có ý kiến đồng ý giao 02 người con chung cho bà M nuôi dưỡng, nên cần thiết giao 02 người con chung cho bà M tiếp tục nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Thái Gia H. Căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung của bà Lê Thùy Duy M.

Ông Thái Thanh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông T thực hiện các quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M xác định đủ điều kiện tự nuôi con nên tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết cấp dưỡng nuôi con trong vụ kiện này.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thùy Duy M và ông Thái Thanh T đều xác định không có tài sản chung và cam kết hiện nay không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ kiện này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điề u 147 của Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Lê Thùy Duy M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001693 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bà Lê Thùy Duy M đã nộp đủ án phí phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điề u 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lê Thùy Duy M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thùy Duy M được ly hôn với ông Thái Thanh T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Thái Gia H, sinh ngày 16/10/2009 và Thái Gia B, sinh ngày 09/02/2014 cho bà Lê Thùy Duy M trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà M về việc không yêu cầu ông Thái Thanh T cấp dưỡng nuôi con.

Nếu sau này, trong quá trình nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, bà M gặp khó khăn về kinh tế thì có quyền yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung; hoặc trong trường hợp bà M không còn đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung thì có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật.

Ông Thái Thanh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản ông T thực hiện các quyền này.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thùy Duy M và ông Thái Thanh T đều xác nhận giữa ông bà không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết và cam kết hiện nay không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí : Bà Lê Thùy Duy M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà M đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001693 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bà Lê Thùy Duy M đã nộp đủ án phí phải nộp.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/5/2020). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. * Nơi nhận:

Cỡ chữ