vanban.org

Bản án 23/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Hạnh và anh Tư"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 5 - 2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Thành, ông Nguyễn Văn Tấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Lương Xuân Toản - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 328/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2020/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1997

Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 04/12/2019, bản tự khai ngày 13/12/2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Đỗ Thị H trình bầy: Chị kết hôn với anh Hoàng Văn T ngày 05/10/2016, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái, vợ chồng kết hôn tự nguyện có tìm hiểu. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2017 chị phát hiện anh T chơi bời nghiện ngập không chịu làm ăn, không quan tâm gì đến gia đình. Chị đã khuyên bảo và nhiều lần cho anh T cơ hội để sửa chữa nhưng anh T không thay đổi, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2019 và không còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Nay chị xác định tình cảm đối với anh T không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị và anh T có một người con chung là Hoàng Ngọc D sinh ngày 18 tháng 8 năm 2017. Nay vợ chồng ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản, không vay mượn tài sản gì của ai nên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Hoàng Văn T đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần để anh T thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập nhưng anh T đều vắng mặt không có lý do chính đáng và không gửi văn bản cho Tòa án nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Các đương sự thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T đều không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, anh T vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần, việc Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh T là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về Quan hệ hôn nhân, giải quyết cho chị Đỗ Thị H được ly hôn anh Hoàng Văn T; về con chung, giao người con là Hoàng Ngọc D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con, không ai được ngăn cản.

- Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đỗ Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hoàng Văn T và yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Đây là tranh chấp về ly hôn, nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Anh Hoàng Văn T đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh T đều vắng mặt, nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử, hai phiên tòa mở vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 13/5/2020 và 07 giờ 30 phút ngày 29/5/2020, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh T đều vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Hoàng Văn T kết hôn ngày 05/10/2016, đăng ký tại UBND xã Y, huyện V, tỉnh Yên Bái trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn chị H, anh T đều đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến cuối năm 2017 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T mải chơi không quan tâm gì đến gia đình. Vợ chồng đã có thời gian tìm biện pháp khắc phục nhưng không có kết quả. Từ tháng 11/2019 đến nay vợ chồng đã sống ly thân mỗi người ở một nơi, không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Tòa án đã nhiều lần thông báo, triệu tập anh T đến Tòa án để giải quyết việc chị H xin ly hôn nhưng anh T đều không đến. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H xử cho chị H được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị H và anh T có 01 người con chung là Hoàng Ngọc D sinh ngày 18/8/2017, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Hiện tại cháu D dưới 36 tháng tuổi và đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, bản thân chị H có đủ điều kiện, khả năng nuôi con. Xét nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của chị H là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Vì Vậy, giao cháu D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; các điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân:

Cho ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Hoàng Văn T.

2. Về nuôi con chung:

Giao cháu Hoàng Ngọc D sinh ngày 18 tháng 8 năm 2017 cho chị Đỗ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng;

Anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2017/0003374 ngày 04 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị Đỗ Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; anh Hoàng Văn T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ