vanban.org

Bản án 23/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Phùng Thị Thu ly hôn anh Lê Văn Chiến"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________
Bản án số:23/2020/HNGĐ-ST
Ngày 11-6-2020
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Bà Triệu Thị Thủy Hoàn;

2- Bà Đoàn Thị Mến.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền- Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2020/HNGĐ-ST ngày 24 tháng 02 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXX-ST ngày 21 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phùng Thị Th 27 tuổi

Địa chỉ: Thôn Y P- xã V- huyện L- tỉnh Y, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Lê Văn Ch 29 tuổi

Địa chỉ: Thôn Y P- xã V- huyện L- tỉnh Y, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 24-02-2020 và các lời khai, nguyên đơn là chị Phùng Thị Th trình bày: Chị và anh Lê Văn Ch kết hôn năm tháng 7 năm 2011 trên cơ sở tự nguyện; đăng ký kết hôn tại UBND xã V- huyện L- tỉnh Y. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận, đến năm 2017 xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Ch hay chơi bời, không quan tâm đến gia đình vợ con dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi nhau, có lần anh Ch còn đánh chị. Gia đình đã khuyên nhủ nhưng anh Ch không thay đổi, vợ chồng sống ly thân từ tháng 2 năm 2019 không còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị giải quyết cho ly hôn. Về con chung: Chị và anh Ch có một cháu là Lê Thanh Tr sinh ngày 01-8-2011 hiện đang ở cùng bà nội. Khi ly hôn chị sẽ để anh Ch nuôi con, nếu anh Ch không nuôi chị sẽ nuôi cháu và không yêu cầu dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và công nợ chung chị không yêu cầu giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã ra văn bản thông báo và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Lê Văn Ch vẫn không có mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa chị Phùng Thị Th và anh Lê Văn Ch là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện L. Tại phiên tòa chị Th có đơn đề nghị nên Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tình cảm: Chị Phùng Thị Th và anh Lê Văn Ch kết hôn năm 2011, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong thời gian qua vợ chồng chị Th- anh Ch không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau từ đó nhiều lần xảy ra cãi vã; hai người cũng đã có thời gian dài sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Qúa trình giải quyết chị Th khẳng đình tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Tại phiên tòa anh Ch có mặt cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đồng ý ly hôn. Qua đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Th- anh Ch đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Th có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Th và anh Ch có một cháu là Lê Thanh Tr sinh ngày 01-8-2011, cháu ở với bà nội từ nhỏ. Trong đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai chị Th nhất trí để anh Ch trực tiếp nuôi con vì hiện tại chị đang đi làm ăn xa; tại phiên Tòa anh Ch nhận nuôi cháu Trúc. Quan điểm này của các đương là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế cần ghi nhận. Do anh Ch không yêu cầu nên chị Th không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến: Qúa trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của các đương sự được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử chị Phùng Thị Th được ly hôn với anh Lê Văn Ch; giao cháu Lê Thanh Tr cho anh Ch trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng…

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về tình cảm: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Phùng Thị Th được ly hôn với anh Lê Văn Ch.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu Lê Thanh Tr sinh ngày 01-8-2011 cho anh Lê Văn Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Phùng Thị Th không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Th thực hiện quyền này.

3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phùng Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị Th đã nộp đủ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L-tỉnh Y theo biên lai số AA/2017/0004761 ngày 24-02-2020.

4- Quyền kháng cáo: Anh Lê Văn Ch có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Phùng Thị Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ