- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giang - Cường"
- Tòa quyết gì? [1] Về Hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Hà Mạnh C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2020/HNGĐ-ST Ngày: 30/7/2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH – TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Hiền
2. Ông Nguyễn Trung Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Khương Thị Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 123/2020/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1990
Nơi ĐKHK: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh V;
Nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện L, tỉnh V (có mặt)
2. Bị đơn: Anh Hà Mạnh C, sinh năm 1990
Nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh V (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn ngày 25/5/2020 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị G trình bày: Chị và anh Hà Mạnh C kết hôn ngày 23/12/2011, có tìm hiểu, có tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện L. Kết hôn xong, chị về sống chung cùng gia đình anh C ngay. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C chơi bời không chịu khó làm ăn, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh C không sửa đổi, vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi nhau. Năm 2018, chị có làm đơn xin ly hôn nhưng vì con còn nhỏ chị đã rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ. Tuy nhiên, từ năm 2018 đến nay vợ chồng vẫn sống ly thân không quan tâm đến nhau. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Hà Thùy L, sinh ngày 06/8/2012. Hiện nay cháu L đang ở cùng chị. Hiện chị đang làm việc tại Công ty TNHH Thảo Minh Sơn tại số 10 Hàng Cháo, Hà Nội. Thu nhập từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ/ tháng, có chỗ ở ổn định. Ly hôn chị xin nuôi con chung và không đề nghị anh C cấp dưỡng nuôi con cùng chị.
Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Chị G không đề nghị Tòa án giải quyết
* Đối với bị đơn anh Hà Mạnh C, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay tiếp tục vắng mặt không có lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án tại Bản tự khai ngày 29/5/2020 anh Hà Mạnh C trình bày: Về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, thời gian mâu thuẫn và thời gian ly thân như chị G trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống và vợ chồng anh sống ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị G xin ly hôn, anh nhất trí ly hôn.
Con chung: Anh C xác nhận như chị G trình bày là đúng. Hiện tại anh đang làm lái xe cho Công ty cổ phần Taxi Hương Lúa ở thành phố Hà Nội. Thu nhập từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ/tháng có chỗ ở ổn định. Ly hôn, anh đề nghị được nuôi con chung, không đề nghị chị G cấp dưỡng nuôi con cùng anh.
Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch phát biểu quan điểm về việc tuân thủ các quy định tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị G được ly hôn anh C; con chung: Giao cho chị G trực tiếp nuôi cháu Hà Thùy L, sinh ngày 06/8/2012, anh C không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị G; tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết; án phí: Chị G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị G và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án. Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án Hôn nhân và Gia đình là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn trong vụ án là anh Hà Mạnh C có địa chỉ cư trú tại thị trấn H, huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đối với bị đơn anh Hà Mạnh C, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng tại phiên tòa hôm nay tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 và Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Hà Mạnh C nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho anh C theo quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị G và anh Hà Mạnh C là cuộc hôn nhân tiến bộ, hợp pháp, được xây dựng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, vợ chồng cũng có thời gian hòa thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không quan tâm, bảo ban được nhau, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng. Chị G xin ly hôn, anh C nhất trí ly hôn.
Xét mâu thuẫn của vợ chồng chị G và anh C đã trầm trọng, các bên đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ chồng, không quan tâm, chăm sóc nhau và làm cho cuộc hôn nhân không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, việc chị G xin ly hôn anh C là có căn cứ, cần được chấp nhận theo quy định tại Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Chị G và anh C đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung là Hà Thùy L, sinh ngày 06/8/2012. Ly hôn, chị G và anh C đều xin nuôi con, không yêu cầu bên kia phải đóng góp nuôi con chung cùng.
Xét về quyền và nghĩa vụ nuôi con chung, điều kiện nuôi con chung của các bên là như nhau. Tuy nhiên, xét về tâm sinh lý thì cháu L là con gái cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Hơn nữa, cháu đang sống ổn định cùng chị G và cháu cũng có nguyện vọng được ở cùng chị G. Do vậy, cần tiếp tục giao cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu L là phù hợp. Chị G không yêu cầu anh C phải đóng góp, cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên cần chấp nhận.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
[1] Về Hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị G được ly hôn anh Hà Mạnh C.
[2] Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Hà Thùy L, sinh ngày 06/8/2012. Anh C không phải đóng góp nuôi con chung cùng chị G.
Sau khi ly hôn, bên không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định, không ai được cản trở.
[3] Án phí: Chị Nguyễn Thị G phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số: 0007742 ngày 28/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lập Thạch. Chị G đã nộp đủ án phí.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lập Thạch; - Chi cục THADS Lập Thạch; - UBND TT. H; - Đương sự; -Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Nga |