- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn sơ thẩm giữa anh Vũ Duy H và chị Phan Thị M"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Duy H được ly hôn chị Phan Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23 /2020/HNGĐ-ST Ngày:26/5/2020 V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Lộc và bà Nguyễn Thị Dung.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Quảng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn châu, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2020/QĐST – HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Vũ Duy H, sinh năm 1984.
Trú tại: xóm 16 (Nay là xóm H), xã DH, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt
Bị đơn: Chị Phan Thị M, sinh năm 1988.
Địa chỉ: xóm 5, xã DT, huyện D, Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 04 tháng 02 năm 2020 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn anh Vũ Duy H trình bày: Anh và chị Phan Thị M kết hôn với nhau ngày 23/02/2011. Hôn nhân có tìm hiểu, tự nguyện hợp pháp. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã DT, huyện D. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, thường xuyên mâu thuẫn xung đột với nhau. Nguyên nhân là do chị M không muốn có con, bản thân anh là con trong gia đình muốn vợ chồng có con chung để xây dựng hạnh phúc. Sau ngày cưới được khoảng một tháng thì chị M bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống mà không rỏ lý do. Chị M bỏ về anh và gia đình có đến khuyên bảo để vợ chồng về đoàn tụ sinh sống nhưng chị M không về, từ đó vợ chồng sống ly thân không còn đi lại, quan tâm chăm sóc nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh đề nghị tòa án nhân dân huyện D giải quyết cho anh được ly hôn với chị Phan Thị M.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Phan Thị M đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hòa giải nhưng chị M vắng mặt không có lý do, vì vậy tòa án đã lập biên bản về việc không thể tiến hành hòa giải được.
Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án, và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử cũng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật trong quá trình xét xử, không có vi phạm về thủ tục.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu của anh Vũ Duy H, xử cho anh Vũ Duy H được ly hôn chị Phan Thị M. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không xem xét giải quyết. Về tài sản không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn, ý kiến trình bày của kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Phan Thị M đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nên tòa án không thể tiến hành hòa giải được. Chị Phan Thị M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm 5, xã DT, huyện D, hiện chị Phan Thị M không có mặt tại nhà, chị M không có địa chỉ cụ thể nhưng thỉnh thoảng có đi đi về về, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của tòa án về việc giải quyết vụ án theo quy định của tố tụng. Tại phiên tòa thứ nhất vào ngày 27 tháng 4 năm 2020 tòa án đã niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa nhưng chị Phan Thị M vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa nhưng chị Phan Thị M vẫn vắng mặt không có lý do. Anh Vũ Duy H có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng khoản1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt chị Phan Thị M, anh Vũ Duy H.
Về tình trạng hôn nhận: Xét cuộc hôn nhân giữa anh Vũ Duy H và chị Phan Thị M là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại UBND xã DT, huyện D. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống khoảng một tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất hòa về con chung, chị M bỏ về không chung sống cùng anh H. Tại phiên tòa hôm nay anh H vắng mặt nhưng tại bản khai và quá trình hòa giải tại tòa án anh vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Phan Thị M, chị Phan Thị M vắng mặt. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa anh Vũ Duy H và chị Phan Thị M đã thật sự trầm trọng. Mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là có thật và vợ chồng đã ly thân, cắt đứt mọi tình cảm không còn đi lại, quan tâm đến nhau. Đời sống chung chấm dứt, mục đích hôn nhân không còn. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của anh H, xử cho anh Vũ Duy H được ly hôn chị Phan Thị M theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Anh Vũ Duy H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Vũ Duy H được ly hôn chị Phan Thị M.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không xem xét giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung và các quyền nghĩa vụ liên quan đến tài sản: Không xem xét giải quyết.
- Án phí: Buộc anh Vũ Duy H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào khoản tiền dự phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo biên lai số 0004971 ngày 13/02/2020. Anh H đã nộp đủ án phí DSST.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn anh Vũ Duy H, bị đơn chị Phan Thị M vắng mặt có quyền kháng cáo lên tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện D; - Chi cục thi hành án; - UBND xã DT, huyện D; - Các đương sự; - Lưu sồ sơ; - Lưu VP/TA. | Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Quang Trung |