- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty TNHH Minh Hoàng Thơ - Công ty Always Win"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty TNHH MHT. Buộc Công ty TNHH ALW phải thanh toán cho Công ty TNHH MHT số tiền nợ gốc là 681.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 306 Luật Thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 23/2019/KDTM -ST Ngày: 28/9/2023 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Minh
- Hội thẩm nhân dân : Ông Nguyễn Văn Bạn
Bà Võ Thị Bời
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Thu Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang:
Ông Nguyễn Giỏi Mạnh Phi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên toà xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 36/2023/TLST-KDTM ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST - KDTM ngày 06 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2023/QĐXXST – KDTM ngày 14 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
II. Những người tham gia phiên hòa giải:
* Nguyên đơn: : CÔNG TY TNHH MHT
Địa chỉ trụ sở: Căn 1Q Chung cư CT1, Khu đô thị VCN Phước Hải, phường Phước Hải, Nha Trang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy – Chức vụ : Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh B
Địa chỉ: 194-A2 Lê Hồng Phong, phường Phước Hải, Nha Trang, Khánh Hòa
(Theo Giấy ủy quyền ngày 17/8/2023).
* Bị đơn: CÔNG TY TNHH ALW
Địa chỉ trụ sở: Ki ốt số 14 tòa nhà OC3 Mường Thanh Viễn Triều, số 03 Phạm Văn Đồng, TP. Nha Trang,Khánh Hòa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Viết T – Chức vụ : Giám đốc.
Điện thoại : xxxx xxx xxx
Mã số thuế doanh nghiệp: 4201831308
Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/4/2023 và các lời khai trong quá trình tố tụng tại tòa án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh B trình bày:
- Căn cứ Hợp đồng số 1003/2020/HĐ/MHT-AW ngày 10/3/2020 ký giữa Công ty TNHH MHT và Công ty TNHH ALW; Căn cứ vào biên bản thanh lý hợp đồng ngày 15/7/2020 “V/v Cung cấp nệm và đồ rời nội thất khách sạn” tại địa điểm: Khách sạn Pavilor, Tòa nhà OC3 Mường Thanh Viễn Triều – TP. Nha Trang.
- Căn cứ Hợp đồng số 0705/2020/HĐ/MHT-AW ngày 07/5/2020 ký giữa Công ty TNHH MHT và Công ty TNHH ALW Căn cứ vào biên bản thanh lý hợp đồng ngày 03/6/2020 “V/v Cung cấp,thi công len chân tường và thảm sàn hành lang tầng 5 khách sạn tại địa điểm: Khách sạn Pavilor, Tòa nhà OC3 Mường Thanh Viễn Triều – TP. Nha Trang.
- Căn cứ Hợp đồng số 0406/2020/HĐ/MHT-AW ngày 04/6/2020 ký giữa Công ty TNHH MHT và Công ty TNHH ALW “V/v Cung cấp,thi công len chân tường và thảm sàn hành lang tầng 4 khách sạn tại địa điểm: Khách sạn Pavilor, Tòa nhà OC3 Mường Thanh Viễn Triều – TP. Nha Trang.
Đến nay, việc cung cấp, thi công đã xong và đưa vào sử dụng đã lâu. Công ty chúng tôi là một trong những đơn vị cung cấp nội thất và thi công len chân tường và thảm sàn hành lang cho công trình khách sạn Pavilor của Công ty TNHH ALW cũng đang gặp những khó khăn về tài chính và phải vay vốn Ngân hàng, để mua vật tư,hàng hóa thi công cho Hợp đồng đã ký với Công ty TNHH ALW. Nhưng quý công ty chỉ thanh toán được một phần trong tổng số giá trị quyết toán đã làm, điều này đã làm cho Công ty chúng tôi gặp khó khăn không nhỏ. Trong khi tiền không thu hồi được, Công ty vẫn phải chi, lãi ngân hàng vẫn phải trả, lương công nhân viên không thể thiếu, thuế vẫn phải đóng đầy đủ. Hơn nữa các hóa đơn tài chính bên công ty chúng tôi đã xuất ra cho Công ty ALW đã được công ty khấu trừ thuế.Việc thu hồi công nợ đối với công ty chúng tôi rất quan trọng để công ty chúng tôi còn duy trì hoạt động. Trước khi đưa hồ sơ khởi kiện ra tòa án, Công ty TNHH MHT đã nhiều lần liên hệ đến trực tiếp; điện thoại cho ông Vũ Viết T – Chức vụ : Giám đốc công ty TNHH ALW ông chỉ hẹn nhưng ông không thực hiện và Chúng tôi được biết Chủ đầu tư đã thanh toán hết số tiền thực hiện công trình cho Qúy công ty nhưng Qúy công ty lại không thanh toán cho công ty chúng tôi và đổi cho lý do là dịch bệnh covid kéo dài làm ảnh hưởng đến hoạt động của công ty, công ty chung tôi cùng đồng cảm sự khó khăn nhưng từ khi hết dịch bệnh chúng tôi liên hệ đến quý công ty thì quý công ty không hợp tác để thanh toán nợ.
Vì vậy Công ty chúng tôi phải làm đơn khởi kiện ra tòa án để nhờ tòa giải quyết theo pháp luật. Tính đến ngày 30/06/2023 Công ty TNHH ALW còn nợ Công ty TNHH MHT với số tiền là: 916.732.177 đồng (Bằng chữ: Chín trăm mười sáu triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng.)
Trong đó:
+ Nợ gốc là : 681.173.232 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi hai đồng)
Cụ thể:
- Hợp đồng số 1003/2020/HĐ/MHT-AW: 591.165.732 đồng
- Hợp đồng số 0705/2020/HĐ/MHT-AW: 20.160.000 đồng
- Hợp đồng số 0406/2020/HĐ/MHT-AW: 69.846.700 đồng
+ Nợ lãi là : 235.558.945 đồng ( Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng), lãi suất này tính theo lãi suất vay quá hạn của ngân hàng Quân đội – CN Khánh hòa không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản, mức lãi suất tính bình quân cho 3 năm ( 2020: 12% ;2021: 11.7% ;2022: 13.5%) Lãi tính 6 tháng đầu năm 2023 (10.5%)
Cụ thể:
+ Hợp đồng số 1003/2020/HĐ/MHT-AW:
591.165.732 x [(1% x 4 tháng )+(0.975% x 12 tháng) +(1,125% x 12 tháng)+(0.875% x 6 tháng)] = 203.656.594 đồng.
+ Hợp đồng số 0705/2020/HĐ/MHT-AW:
20.160.000 x[(1% x 5 tháng) +(0.975% x 12 tháng) + (1,125% x 12 tháng)+( 0.875% x 6 tháng)] = 7.141.400 đồng.
+ Hợp đồng số 0406/2020/HĐ/MHT-AW:
69.846.700 x [(1% x 5 tháng) + (0.975% x 12 tháng) + (1,125% x 12 tháng)+( 0.875% x 6 tháng)] = 24.760.951 đồng.
Riêng hợp đồng số : 0406/2020/HĐ/MHT-AW ngày 04/6/2020 chỉ có hợp đồng và hóa đơn giá trị gia tăng, còn Biên bản thanh lý hợp đồng công ty chúng tôi đã ký và đưa cho công ty Alway Win nhưng công ty không gửi trả.
Trên cơ sở đó để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Công ty TNHH MHT tôi đề nghị Công ty TNHH ALW thanh toán số tiền : 916.732.177 đồng (Bằng chữ: Chín trăm mười sáu triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng) cho Công ty chúng tôi.
* Bị đơn, ông Vũ Viết T trình bày:
Tôi thừa nhận giữa Công ty TNHH ALW và Công ty TNHH MHT có ký kết với nhau các Hợp đồng số 1003/2020/HĐ/MHT-AW ngày 10/3/2020; số 0705/2020/HĐ/MHT-AW ngày 07/5/2020 và Hợp đồng số 0406/2020/HĐ/MHT-AW ngày 04/6/2020 đúng như đại diện nguyên đơn trình bày.
Giữa hai bên đã thực hiện xong tất cả các hợp đồng nêu trên và các bên đã ký biên bản thanh lý hợp đồng và chốt công nợ. Tuy nhiên do phía Công ty TNHH ALW đang gặp khó khăn nên chưa thanh toán các khoản nợ cho phía Công ty TNHH MHT.
Tính đến nay tôi xác nhận Công ty TNHH ALW vẫn còn nợ khoản thanh toán của Công ty TNHH MHT theo các Hợp đồng đã ký kết giữa hai bên. Cụ thể:
Nợ gốc là : 681.173.232 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi hai đồng)
Cụ thể:
- Hợp đồng số 1003/2020/HĐ/MHT-AW: 591.165.732 đồng
- Hợp đồng số 0705/2020/HĐ/MHT-AW: 20.160.000 đồng
- Hợp đồng số 0406/2020/HĐ/MHT-AW: 69.846.700 đồng
Công ty TNHH ALW đồng ý thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc cho Công ty TNHH MHT trong vòng 09 tháng, thanh toán 3 tháng 1 lần cho đến hết số tiền nợ gốc.
Đối với việc tính lãi của phía nguyên đơn, bị đơn xin được miễn tiền lãi mà phía nguyên đơn yêu cầu, vì hiện tại phía Công ty TNHH ALW hiện nay rất khó khăn.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang phát biểu quan điểm: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét một cách toàn diện, công khai tại phiên tòa.
Vì vậy việc nguyên đơn, Công ty TNHH MHT yêu cầu bị đơn, Công ty TNHH ALW phải thanh toán số tiền còn lại là 681.173.232 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi hai đồng) và tiền lãi 235.558.945 đồng ( Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng). Tổng cộng 916.732.177 đồng (Bằng chữ: Chín trăm mười sáu triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng) và lãi suất do chậm thanh toán theo hợp đồng là có cơ sở để chấp nhận.
Bởi các lẽ trên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án;
- Căn cứ Điều 50, 55, 306 Luật thương mại.
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Để giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
+ Buộc bị đơn Công ty TNHH ALW phải thanh toán số tiền là 681.173.232 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi hai đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán là 235.558.945 đồng (Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng). Tổng cộng 916.732.177 đồng (Bằng chữ: Chín trăm mười sáu triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng).
- Án phí: Bị đơn phải chịu án phí KDTM-ST theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Công ty TNHH MHT khởi kiện Công ty TNHH ALW có địa chỉ trụ sở tại Kiot số 14 Tòa nhà OC3 Mường Thanh Viễn Triều, số 3 Phạm Văn Đồng, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa về việc “Tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa” nên Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ án kinh doanh thương mại nêu trên là đúng theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[1.2] Bị đơn Công ty TNHH ALW đã được Tòa án thông báo hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa ngày 14/9/2023, Công ty TNHH ALW, đại diện theo pháp luật là ông Vũ Viết T đã không có mặt, Tòa án đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 28/9/2023, Công ty TNHH ALW tiếp tục vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Trong năm 2020, giữa Công ty TNHH MHT và Công ty TNHH ALW đã ký các hợp đồng sau: Hợp đồng số 1003/2020/HĐ/MHT-AW ngày 10/3/2020; Hợp đồng số 0705/2020/HĐ/MHT-AW ngày 07/5/2020; và Hợp đồng số 0406/2020/HĐ/MHT-AW ngày 04/6/2020. Các bên đều thừa nhận giữa hai bên đã thực hiện hoàn tất các hợp đồng đã ký kết giữa hai bên; đồng thời hai bên đã ký thanh lý các hợp đồng theo biên bản thanh lý hợp đồng ngày 15/7/2020; vào biên bản thanh lý hợp đồng ngày 03/6/2020. Đối với Hợp đồng số 0406/2020/HĐ/MHT-AW ngày 04/6/2020 nguyên đơn đã xuất Hóa đơn giá trị gia tăng thanh lý Hợp đồng 0406/2020/HĐ/MHT-AW ngày 04/6/2020 và phía bị đơn cũng thừa nhận giá trị thanh lý Hợp đồng, không tranh chấp đối với các điều khoản của Hợp đồng. Như vậy, giữa hai bên không tranh chấp gì về các điều khoản của các Hợp đồng đã ký kết giữa các bên. Hai bên đã thống nhất chốt công nợ của 03 Hợp đồng nêu trên với số tiền 681.173.232 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi hai đồng), không tranh chấp gì đối với khoản tiền này.
Tuy nhiên, bị đơn trình bày do phía Công ty TNHH ALW đang gặp khó khăn nên chưa thanh toán các khoản nợ cho phía Công ty TNHH MHT. Công ty TNHH ALW đồng ý thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc 681.173.232 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi hai đồng) cho Công ty TNHH MHT trong vòng 09 tháng, thanh toán 3 tháng 1 lần cho đến hết số tiền nợ gốc. Phía bị đơn xin được miễn tiền lãi mà phía nguyên đơn yêu cầu, vì hiện tại phía Công ty TNHH ALW hiện nay rất khó khăn. Nguyên đơn không đồng ý và yêu cầu bị đơn thanh toán tiền gốc một lần là có cơ sở chấp nhận.
Đối với số tiền lãi suất chậm thanh toán mà Công ty TNHH MHT yêu cầu, HĐXX thấy rằng Công ty TNHH ALW chậm thanh toán tiền cho Công ty TNHH MHT là lỗi của Công ty TNHH ALW, đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận cam kết giữa các bên nên nghĩa vụ phải thanh toán tiền lãi suất chậm trả là hoàn toàn đúng theo quy định của pháp luật nên chấp nhận. Mức lãi suất chậm thanh toán mà nguyên đơn yêu cầu là phù hợp với quy định lãi suất ngân hàng từng thời kỳ nên có căn cứ chấp nhận. Cụ thể:
+ Hợp đồng số 1003/2020/HĐ/MHT-AW:
591.165.732 x [(1% x 4 tháng )+(0.975% x 12 tháng) +(1,125% x 12 tháng)+(0.875% x 6 tháng)] = 203.656.594 đồng.
+ Hợp đồng số 0705/2020/HĐ/MHT-AW:
20.160.000 x[(1% x 5 tháng) +(0.975% x 12 tháng) + (1,125% x 12 tháng)+( 0.875% x 6 tháng)] = 7.141.400 đồng.
+ Hợp đồng số 0406/2020/HĐ/MHT-AW:
69.846.700 x [(1% x 5 tháng) + (0.975% x 12 tháng) + (1,125% x 12 tháng)+( 0.875% x 6 tháng)] = 24.760.951 đồng.
Tổng cộng tiền lãi là 235.558.945 đồng ( Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng).
Như vậy, Công ty TNHH ALW phải trả cho Công ty TNHH MHT số tiền nợ là 681.173.232 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi hai đồng) và tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày xét xử là 235.558.945 đồng ( Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng). Tổng cộng hai khoản Công ty TNHH ALW phải thanh toán cho Công ty TNHH MHT số là 916.732.177 đồng (Bằng chữ: Chín trăm mười sáu triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng).
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định của pháp luật. Cụ thể án phí bị đơn phải chịu 39.501.965 đồng (Ba mươi chín triệu năm trăm lẻ một nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng) tiền án phí KDTMST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 306 Luật Thương mại;
- Áp dụng Điều 35, Điều 39, Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 2 Điều 26, Nghị quyết số 326/2016/UBTUQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty TNHH MHT. Buộc Công ty TNHH ALW phải thanh toán cho Công ty TNHH MHT số tiền nợ gốc là 681.173.232 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm tám mươi mốt triệu một trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm ba mươi hai đồng) và tiền lãi chậm thanh toán tính đến ngày 30/6/2023 là 235.558.945 đồng ( Hai trăm ba mươi lăm triệu năm trăm năm mươi tám nghìn chín trăm bốn mươi lăm đồng). Tổng cộng hai khoản Công ty TNHH ALW phải thanh toán cho Công ty TNHH MHT số là 916.732.177 đồng (Bằng chữ: Chín trăm mười sáu triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn một trăm bảy mươi bảy đồng).
Về án phí: Công ty TNHH ALW phải nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 39.501.965 đồng (Ba mươi chín triệu năm trăm lẻ một nghìn chín trăm sáu mươi lăm đồng). Hoàn lại số tiền 19.215.000 đồng (Mười chín triệu hai trăm mười lăm nghìn đồng) cho Công ty TNHH MHT tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0011585 ngày 12/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang.
Quy định: Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND Tp. Nha Trang; - CCTHADS Tp. Nha Trang; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Minh |