vanban.org

Bản án 23/2019/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 23/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Giết người”.

Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2019. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa. Cụ thể: Bị cáo Bùi V… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Phúc - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN
NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23 /2019/HSST
Ngày: 23/5/2019.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Long.

+ Thẩm phán:

Ông Nguyễn Anh.

+ Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Quỳnh Nga.

Ông Mai Gia Cát.

Ông Phạm Tiến.

+ Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Ông Trƣơng Quang Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 23/5/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn P - sinh năm 1988 tại H. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn 6, xã E, huyện A, tỉnh Đ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; con ông: Bùi Văn Q (1965) và bà Trương Thị M (chết); vợ: Vũ Thị V (1995) đã ly hôn, có 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/3/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Văn Thành - Công ty Luật TNHH A Tịnh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Khánh Hòa - bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của Tòa án. Luật sư Thành có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Minh H (chết ngày 15/3/2019).

- Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột - 1948); anh Nguyễn Nhật H (con ruột - 1999). Cùng địa chỉ: Thôn H, phường C, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Bà L và anh H đều ủy quyền cho Ông Nguyễn Minh H (1970) tham gia tố tụng (Theo giấy ủy quyền được UBND phường C, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa chứng thực vào ngày 16/4/2019); địa chỉ: Thôn H, phường C, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Ông H có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

. Anh Đặng Ngọc T (1988); địa chỉ tạm trú: Thôn T, phường C, huyện A, tỉnh Khánh Hòa. Anh T vắng mặt tại phiên tòa.

. Anh Nguyễn Văn B (1995); địa chỉ tạm trú: Thôn T, phường C, huyện A, tỉnh Khánh Hòa. Anh B vắng mặt tại phiên tòa.

. Anh Hồ Quốc H (1980); địa chỉ: Xóm 3, Thôn T, phường C, huyện A, tỉnh Khánh Hòa. Anh H vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn P là nhân viên trang trí nội thất, đang ở trọ tại quán cơm “Trinh” (thuộc thôn T, phường C, huyện A, tỉnh Khánh Hòa) và Nguyễn Minh H là bạn. Tối ngày 14/3/2019, P, H, Nguyễn Văn B và Đặng Ngọc T cùng ăn uống tại quán “Vịt” trên lề đường Đ, thị trấn C, huyện A, tỉnh Khánh Hòa. Sau đó, cả nhóm rủ nhau về quán cơm “Trinh” của T để nhậu tiếp. Đến khoảng 22h30 cùng ngày, B mệt nên đi về trước, P mượn điện thoại của H để sử dụng gọi và nhắn tin cho bạn trên mạng xã hội. Lúc này, có một người khách đi đường (chưa xác định được nhân thân) nhờ H chở ra sân bay Cam Ranh, H đồng ý và nói P trả lại điện thoại cho mình nhưng P không trả thì giữa H và P phát sinh mâu thuẫn, kình cãi nhau nên người khách bỏ đi. Sau đó, H đến giật chiếc điện thoại của H mà P đang cầm, P giật lại nhưng không được thì H dùng tay đấm vào mặt của P, P cầm ghế nhựa trong bàn đuổi đánh H. Lúc này, T đến can ngăn nên P bỏ ghế nhựa xuống và đi vào bếp của quán cơm “Trinh” lấy 01 con dao thái lan giấu vào trong người rồi quay lại bàn chửi nhau với H. H đi đến dùng điện thoại đánh P thì P cầm dao thái lan bằng tay phải đâm nhiều nhát vào tay trái và 01 nhát vào vùng cổ của H làm H té ngã. Sau đó, H đứng dậy bỏ chạy ra phía sau bếp thì tử vong. P cầm dao chạy trốn vào khu vực nhà dân và vứt dao trên đường bỏ chạy (Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu được). Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Bùi Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 142/TT-TTPY ngày 22/3/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa kết luận nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Minh H là “suy tuần hoàn do vết thương xuyên thấu ngực gây thủng động mạch cảnh, khí quản. Phù hợp với tác nhân vật sắc nhọn chiều hướng từ trái qua phải, trước ra sau, ngoài vào trong”.

Bản cáo trạng số 30/CT-VKSKH-P1 ngày 03/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa nhận định: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm và ảnh hưởng xấu cho xã hội, thể hiện tính côn đồ hung hãn. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 20 năm tù. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa về việc bồi thường thiệt hại. Về vật chứng: Tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, những người làm chứng Đặng Ngọc T, Nguyễn Văn B, Hồ Quốc H đều vắng mặt. Vị đại diện Viện kiểm sát, vị luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều đề nghị vẫn tiến hành xét xử. Xét thấy hồ sơ đã có đầy đủ lời khai và sự vắng mặt của những người làm chứng nêu trên cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người làm chứng có tên nêu trên.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng hơn 22 giờ 30 phút ngày 14/3/2019, do mâu thuẫn trong việc mượn điện thoại di động giữa Bùi Văn P và Nguyễn Minh H, P đã dùng dao thái lan đâm nhiều nhát vào tay trái và 01 nhát vào vùng cổ làm anh H tử vong. Kết luận giám định xác định nguyên nhân tử vong của anh Nguyễn Minh H là “suy tuần hoàn do vết thương xuyên thấu ngực gây thủng động mạch cảnh, khí quản. Phù hợp với tác nhân vật sắc nhọn chiều hướng từ trái qua phải, trước ra sau, ngoài vào trong”. Như vậy, bản Cáo trạng số 30/CT-VKSKH-P1 ngày 03/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác trái pháp luật, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính côn đồ hung hãn, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống mà bị cáo đã dùng hung khí nguy hiểm tước đoạt mạng sống của anh H. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Minh H thừa nhận gia đình bị cáo có tạm ứng cho gia đình anh số tiền là 15.000.000đ để hỗ trợ chi phí mai táng cho anh H, tuy nhiên không biết cụ thể là ai, tên gì. Tại phiên tòa, bị cáo xác định không tác động gia đình bồi thường nên không biết gì về việc hỗ trợ nêu trên, không biết ai đã hỗ trợ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của bộ luật hình sự năm 2015 cho bị cáo.

Các nội dung khác:

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền chi phí mai táng là 32.244.000đ, tiền tổn thất về tinh thần 100.000.000đ, tổng cộng là 132.244.000đ (một trăm ba mươi hai triệu hai trăm bốn mươi bốn ngàn đồng). Bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ số tiền theo yêu cầu nêu trên. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các bên nên ghi nhận.

Về vật chứng: Xét thấy các vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải bồi thường.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Giết người”.

2. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Bùi Văn P.

Áp dụng các Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 591 của Bộ luật dân sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 18 (mười tám) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/3/2019.

3.Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo với đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa. Cụ thể: Bị cáo Bùi Văn Phúc bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền là 132.244.000đ (một trăm ba mươi hai triệu hai trăm bốn mươi bốn ngàn đồng).

Quy định chung: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành số tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 89, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng sau: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung (nắp và pin bị rời) theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa với Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

5. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn P phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 6.612.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Như vậy, tổng số tiền án phí mà bị cáo Bùi Văn Phúc phải nộp là 6.812.000đ (sáu triệu tám trăm mười hai ngàn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ