- Tranh chấp gì? án hình sự — "cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm nhẹ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2019/HSST Ngày: 04/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Huỳnh Thị Tuyết Vân
2/ Bà Võ Thị Hồng Vân
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Thế Chung – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thuận – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2019/HSST ngày 17 tháng 01 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/HSST-QĐ ngày 15/02/2019, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh N ; Giới tính: Nam; Sinh năm 1975, tại: TP.Cần Thơ; HKTT: Khu vực Thới C, phường Phước T, Quận M, TP.Cần Thơ. Chỗ ở: Số 8, khu phố 6, phường An L, Quận B, TP.Hồ Chí Minh. Quốc tịch: V Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Cha: Nguyễn Văn H; Mẹ : Nguyễn Thị Thu B, Hoàn cảnh gia đình: có Vợ tên Trần Thị Kiều O; có 01 người con sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không
- Tạm giam ngày 16/10/2018- (có mặt).
*Người bị hại: Bà Phạm Thị S
Trú tại: A, tổ 4, khu phố 8, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
- (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn V , 1974
Trú tại: A, tổ 7, khu phố 7, phường T, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh
- (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh N là đối tượng không nghề nghiệp, không có nơi cư trú nhất định, do cần tiền tiêu xài nên N dùng thủ đoạn giả danh cán bộ đô thị phường đi tìm những căn nhà đang sửa chữa hoặc đang xây dựng để uy hiếp tinh thần dọa sẽ kiểm tra làm cho chủ nhà hoảng sợ buộc họ phải đưa tiền.
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 12/10/2018, Nguyễn Thanh N điều khiển xe mô tô biển số 59D2-280.65 chạy lòng vòng trong khu vực phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 tìm những nhà đang xây dựng hoặc sửa chữa để gặp chủ nhà và tự giới thiệu là cán bộ đô thị của phường đến kiểm tra với mục đích đe dọa gây khó khăn cho chủ nhà và yêu cầu chủ nhà đưa tiền thì sẽ bỏ qua việc kiểm tra. Khi phát hiện căn nhà số 44/59 tổ 4, khu phố 8, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 đang sửa chữa, chủ nhà là bà Phạm Thị S đang đứng gần đó, N dừng xe lại và đi đến gặp hỏi bà S là có phải chủ nhà không và tự giới thiệu mình là cán bộ đô thị phường đến kiểm tra. N yêu cầu bà S đưa giấy phép sửa chữa nhà để kiểm tra nhưng bà S nói là giấy phép hiện nay do tổ trưởng cất giữ. Do thấy bà S không xuất trình được giấy phép đưa ra nên N yêu cầu bà S đưa 5.000.000 đồng thì sẽ không kiểm tra giấy phép, vì lo sợ bị kiểm tra nên bà S đã lấy trong túi số tiền 2.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng) đưa cho N . Lấy tiền xong, N yêu cầu bà S đưa thêm 3.000.000 đồng, bà S đi ra sau nhà khoảng 02 phút, sau đó quay ra nói là không có tiền, chỉ mượn được của người khác và đưa thêm cho N 2.000.000 đồng (loại tiền mệnh giá 500.000 đồng), chiếm đoạt tiền xong N lên xe bỏ đi.
Sau khi sự việc xảy ra, bà S có kể lại cho anh Phạm Văn Hức (là hàng xóm) nghe.Vì nghi ngờ nên anh Hức đã kiểm tra camera an ninh thì xác định N không phải là cán bộ đô thị của phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 nên đã ghi lại đặc điểm cùng phương tiện của N . Riêng N sau khi lấy được số tiền 4.000.000 đồng của bà S thì N đã tiêu xài cá nhân hết 3.000.000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng cất giữ. Đến khoảng 09 giờ ngày 15/10/2018, N tiếp tục quay lại khu vực phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 thì bị quần chúng nhân dân phát hiện giữ lại báo Công an phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 lập hồ sơ xử lý.
Tại cơ quan CSĐT Công an Quận 12, Nguyễn Thanh N đã khai nhận chiếm đoạt số tiền 4.000.000 đồng của bà Phạm Thị S như nội dung vụ án nêu trên.
Ngoài ra việc Nguyễn Thanh N bị anh Phạm Văn V , sinh năm 1974, HKTT 401/4 khu phố 2, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12; chỗ ở 89/97 tổ 7, khu phố 7, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 tố cáo: Khoảng đầu tháng 7/2018, anh V đang sửa chữa nhà thì Nguyễn Thanh N giả danh làm cán bộ đô thị phường đến yêu cầu kiểm tra giấy phép xây dựng và gợi ý cho phép anh V xây dựng thêm căn gác của nhà, đồng thời yêu cầu anh V đưa số tiền 30.000.000 đồng sẽ cho phép xây thêm. Do không có tiền nên anh V thỏa thuận với N số tiền là 20.000.000 đồng, N đồng ý. Sau đó, anh V đưa cho N số tiền 20.000.000 đồng có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn Vọng, sinh năm 1979 và anh Lê Văn Thọ, sinh năm 1976 (là thợ hồ đang sửa chữa nhà cho anh V ). Tuy nhiên, qua làm việc thì N không thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng của anh V .Vụ việc này Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 12 tiếp tục xác minh khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
Vật chứng thu giữ: 1.000.000 đồng thu giữ của bị can N là tang vật vụ án, 01 bộ trang phục gồm: 01 áo sơ mi dài tay màu xanh; 01 quần tây màu xanh; 01 dây thắt lưng; 01 đôi giầy màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu nâu; 01 cái mắt kính màu trắng và xe mô tô hiệu Honda Future biển số 59D2-280-65, số máy JC35E0397144; số khung RLHJC350XBY307143.
Bản cáo trạng số 21/CTr-VKS, ngày 16/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận hành vi không có chức trách, nhiệm vụ tự giới thiệu mình là cán bộ đô thị phường để đe dọa sẽ kiểm tra gây khó khăn đối với công trình sửa chữa xây dựng nhằm uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt tài sản 4.000.000 đồng của bà Phạm Thị S . Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo; sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù; Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo N không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Do lười lao động, cần có tiền tiêu xài, lợi dụng sự thiếu hiểu biết về xây dựng của các hộ dân đang xây dựng hoặc sửa chữa nhà. Nguyễn Thanh N không có chức trách, nhiệm vụ nhưng tự giới thiệu mình là cán bộ đô thị phường để đe dọa sẽ kiểm tra gây khó khăn đối với công trình sửa chữa xây dựng nhằm uy hiếp tinh thần để chiếm đoạt tài sản. Khi phát hiện căn nhà số 44/59 tổ 4, khu phố 8, phường Tân Chánh Hiệp, Quận 12 đang sửa chữa do bà Phạm Thị S làm chủ. N tự giới thiệu mình là cán bộ đô thị phường đến kiểm tra và yêu cầu bà S đưa giấy phép sửa chữa nhà để kiểm tra. Do thấy bà S không xuất trình được giấy phép đưa ra nên N yêu cầu bà S đưa 5.000.000 đồng thì sẽ không kiểm tra giấy phép. Vì lo sợ bị kiểm tra nên bà S đã 02 lần đưa tiền, tổng cộng 4.000.000 đồng cho N , chiếm đoạt tiền xong N lên xe bỏ đi.
Hành vi dùng thủ đoạn giả danh cán bộ địa chính phường, đe dọa uy hiếp về tinh thần sẽ kiểm tra gây khó khăn đối với công trình đang sửa chữa nhà của bà S buộc bà S phải đưa tiền 4.000.000 đồng rồi chiếm đoạt tài sản nêu trên của Nguyễn Thanh N đã phạm vào tội Cưỡng đoạt tài sản, Với hành vi như đã nêu trên, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự truy tố bị cáo N là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh cán bộ, gây mất trật tự, trị an địa phương. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục bị cáo, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng tài sản chiếm đoạt không lớn và đã được thu hồi một phần trả lại cho người bị hại để áp dụng các điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu bồi thường 4.000.000 đồng, bị cáo đã nộp lại được 1.000.000 đồng. Còn 3.000.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo N đồng ý bồi thường cho người bị hại.
Đối với trang phục gồm quần áo, nón bảo hiểm, thắt lưng, kính bị cáo N dùng vào để uy hiếp các cá nhân nhằm nhiếm đoạt tài sản, cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Future biển số 59D2-280-65, số máy JC35E0397144; số khung RLHJC350XBY307143, ông Nguyễn Trung Tuấn đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh ông Tuấn không có cư trú tại địa phương (BL 82a, 82b). Vì vậy cần Giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô hiệu biển số 59D2-280-65. Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ nhà nước
Đối với hành vi Nguyễn Thanh N giả danh cán bộ đô thị phường đến yêu cầu kiểm tra giấy phép xây dựng và gợi ý cho phép anh Phạm Văn V xây dựng thêm căn gác của nhà, đồng thời yêu cầu anh V đưa số tiền 30.000.000 đồng sẽ cho phép xây thêm. Do không có tiền nên anh V thỏa thuận với N số tiền là 20.000.000 đồng, N đồng ý. Sau đó, anh V đưa cho N số tiền 20.000.000 đồng có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn Vọng và anh Lê Văn Thọ (là thợ hồ đang sửa chữa nhà cho anh V ). Tuy nhiên, qua làm việc thì N không thừa nhận đã chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng của anh V .Vụ việc này Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 12 đã tách vụ án, tiếp tục xác minh khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; các điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2018.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Trả lại cho người bị hại bà Phạm Thị S : 1.000.000 đồng.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N bồi thường cho người bị hại bà Phạm Thị S số tiền còn lại là 3.000.000 đồng.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ trang phục gồm 01 áo sơ mi dài tay màu xanh; 01 quần tây màu xanh; 01 dây thắt lưng; 01 đôi giầy màu đen; 01 mũ bảo hiểm màu nâu; 01 cái mắt kính màu trắng.
- Giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô hiệu Honda Future biển số 59D2-280-65, số máy JC35E0397144; số khung RLHJC350XBY307143. Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ nhà nước
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 21/QĐ-VKS ngày 16/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh)
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp. Hồ Chí Minh; (01) - VKSND Quâ ̣n 12; (02) - THADS Quâ ̣n 12; (01) - Phòng PC53 CA Tp. HCM; (01) - Công an Quâ ̣n 12; (01) - UBND nơi bị cáo cư trú; (01) - Bị cáo; (01) - Người tham gia tố tụng khác; (021) - Lưu hồ sơ vụ án. T 20/. (05) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |