vanban.org

Bản án 23/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 18/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Y S Niê, phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

[1] Xử phạt: Y S Niê: 09(chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. [2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tuyên tiêu hủy 0… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y S Niê, sinh năm 1997. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Y S Niê, phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HSST
Ngày 18/7/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Chiến

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Khắc Dũng.

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Hồ Thị Thu Ba– Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tất Tại– Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2019/HSST ngày 05/6/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/HSST- QĐ ngày 05/7/2019 đối với bị cáo:

Y S Niê- sinh năm 1997, tại: huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: buôn M’ A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: làm nông. Trình độ học vấn: lớp 11/12. Dân tộc: Ê Đê. Con ông Y L Mlô, sinh năm 1971 và con bà H’ T Niê, sinh năm 1974. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại- Có mặt.

- Người bị hại : anh Y N Knul, sinh năm 1988. Nghề nghiệp: làm nông. Trú tại: buôn K, xã D, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk: có mặt.

- Người phiên dịch: ông Y K Niê, cán bộ. Trú tại: số 152 đường N, thị trấn K, tỉnh Đắk Lắk: có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Y S Niê và chị H’ H Kpă sống chung với nhau, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán người dân tộc Ê Đê, nhưng chưa đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Khoảng 19 giờ ngày 10/01/2019, Y S đi nhậu về nhà thì thấy điện thoại của chị H’ H có tin nhắn của anh Y N Knul trên mạng xã hội Messenger gửi với nội dung anh Y N rủ chị H’ H đi chơi. Lúc này, chị H’ H không có nhà nên Y S sử dụng điện thoại và Nickname của chị H’ H nhắn tin hẹn anh Y N đến cổng chào buôn S, xã Đ đón đi chơi. Khi về nhà thấy Y S đang dùng điện thoại của mình nhắn tin cho anh Y N nên chị H’ H nói “ đừng nhắn tin nữa” nhưng Y S vẫn tiếp tục nhắn tin. Do nhầm tưởng là chị H’ H nhắn tin nên anh Y N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 47F1-170.07 đi từ thị xã B sang huyện K để đón chị H’ H đi chơi. Khoảng 20 giờ cùng ngày anh Y Ê Niê đến rủ Y S và chị H’ H sang nhà nhậu. Trước khi đi, Y S xuống bếp lấy một con dao Thái lan dấu vào túi quần với mục đích để đánh anh Y N khi gặp. Sau đó, Y S Niê cùng với anh Y Ê và chị H’ H đi bộ đến cổng chào buôn S. Anh Y Ê vào quán tạp hóa mua rượu và cho chị H’ H 10.000đ mua bánh, còn Y S ngồi ghế đá trước quán hớt tóc cách cổng chào 3m. Mua rượu xong, anh Y Ê đi lại ngồi ghế đá cùng với Y S. Lúc này, anh Y N gọi điện thoại cho chị H’ H, Y S liền đưa điện thoại cho chị H’ H nghe, anh Y N hỏi chị H’ H “đang ở đâu”, thì chị H’ H trả lời “đang ở cổng chào buôn T, anh Y N nói “ừ, anh qua”, chị H’ H lại ngồi cùng ghế đá với Y S và Y Ê. Khoảng 5 phút sau, anh Y N điều khiển xe mô tô đến, dừng lại và nói với chị H’ H “đi thôi em”. Nghe vậy, Y S đi đến trước đầu xe mô tô nói “mày là thằng định chở vợ tao đi chơi à”, anh Y N trả lời “tôi có biết vợ anh đâu”, Y S nói “đây này, số điện thoại mày vừa gọi đây”. Sau đó, Y S dùng tay đấm một nhát trúng vào mũ bảo hiểm, anh Y N đưa hai tay ôm đầu thì Y S tiếp tục đánh. Anh Y Ê lại căn ngăn Y S, khi anh Y N bỏ chạy thì bị Y S dùng dao Thái lan đâm một nhát trúng vào vùng lưng phải, làm dao bị gãy, phần lưỡi dao găm vào lưng, anh Y N bỏ chạy vào quán tạp hóa của bà Lê Thị Thúy P gần đó và được mọi người đưa đi cấp cứu ở bệnh viện 333, còn Y S và anh Y Ê, chị H’ H đi về nhà.

Tại Bản kết luận pháp y thương tích số 273/PY-TgT ngày 26/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: anh Y N Knul bị vết thương lưng phải, tràn khí màng phổi, tỷ lệ thương tích 10% do vật sắc nhọn tác động.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, rộng 1,5cm, dày 1cm, một đầu nhọn, đầu còn lại nối liền với đoạn lưỡi dao dài 4cm, rộng 2cm; 01 lưỡi dao bằng kim loại dài 7,5cm, rộng 1,5cm có một đầu nhọn; 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xám đỏ, biển kiểm soát 47F1-170.07, quá trình điều tra Công an huyện Ea Kar đã trả cho anh Y N Knul là người quản lý hợp pháp.

-Tại phiên tòa, bị cáo Y S Niê khai nhận: Toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xuất phát từ việc người bị hại anh Y N Knul nhắn tin rủ H’ H Kpă (là vợ bị cáo cưới theo phong tục người Ê Đê) đi chơi nên bị cáo tức giận, giả danh H’ H nhắn tin nói anh Y N Knul sang đón chở đi chơi. Khi anh Y N sang đón H’ H thì bị cáo đã dùng tay đấm vào đầu trúng mũ bảo hiểm và dùng dao Thái lan mang theo trong người đâm một nhát phía sau lưng phải gây thương tích cho anh Y N.

-Tại phiên tòa, người bị hại anh Y N Knul xác nhận lời khai của bị cáo cơ bản là đúng sự thật. Tháng 9/2018, tôi kết bạn với chị H’ H Kpă thông qua mạng Facebook nên thi thoảng nhắn tin nói chuyện. Khoảng 18 giờ ngày 10/01/2019, tôi có nhắn tin rủ chị H’ H đi phố chơi và được trả lời hẹn sang đón, không biết việc bị cáo đã lấy điện thoại của chị H’ H để nhắn tin hẹn sang đón. Khoảng 20 giờ cùng ngày khi tôi đến điểm hẹn thì thấy ba người ngồi ở ghế đá. Lúc này, bị cáo ra đứng trước đầu xe mô tô của tôi nói “mày rủ vợ tao đi chơi à”, tôi nói “biết vợ anh đâu”, bị cáo liền dùng tay đấm trúng mũ bảo hiểm, sau đó bị cáo dùng dao đâm tôi một nhát trúng lưng phải gây thương tích cho tôi. Trong quá trình bị cáo dùng tay đấm tôi thì tôi cảm nhận bạn của bị cáo là anh Y Ê có dùng tay đấm tôi nhưng tôi không xác định chính xác.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 03/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố bị cáo Y S Niê, về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar thực hành quyền công tố luận tội: Hành vi của bị cáo Y S Niê đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích nên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Y S Niê, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Y S Niê: từ 01(một) năm đến 01(một) năm 03(ba) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy 01 cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, rộng 1,5cm, dày 1cm, một đầu nhọn, đầu còn lại nối liền với đoạn lưỡi dao dài 4cm, rộng 2cm và 01 lưỡi dao bằng kim loại dài 7,5cm, rộng 1,5cm có một đầu nhọn là công cụ bị cáo dùng phạm tội.

Chấp nhận việc Công an huyện Ea Kar đã giao trả cho người bị hại anh Y N Knul 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xám đỏ, biển kiểm soát 47F1-170.07 là người quản lý hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Y S Niê phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại anh Y N Knul toàn bộ chi phí điều trị thương tích, tiền xe đi lại, tiền thu nhập thực tế bị mất, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền là 10.800.000đ (mười triệu tám trăm nghìn đồng).

Người bị hại anh Y N Knul không trình bày lời buộc tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại phần bồi thường thiệt hại.

Bị cáo Y S Niê đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar và không tranh luận gì thêm.

Tại phần lời nói sau cùng bị cáo Y S Niê tỏ thái độ ăn năn và yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, người bị hại anh Y N trình bày khi bị cáo dùng tay đấm thì có cảm nhận anh Y Ê cũng dùng tay đấm nhưng không xác định chính xác. Bị cáo và những người làm chứng chị H’ H, anh Y Ê đều khẳng định: chỉ có một mình bị cáo đánh người bị hại, anh Y Ê vào căn ngăn kéo bị cáo ra không cho đánh người bị hại. Quá trình đối chất và thực nghiệm điều tra, không có căn cứ xác định việc anh Y Ê có dùng tay đấm người bị hại nên không có cơ sở để xem xét.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với bản kết luận pháp y thương tích, cơ bản phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: do có mâu thuẫn trong việc tình cảm nam nữ nên vào khoảng 20 giờ ngày 10/01/2019, bị cáo dùng tay đấm trúng vào mũ bảo hiểm và dùng dao loại dao Thái lan đâm anh Y N Knul 01 nhát trúng lưng phải gây thương tích 10%.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bởi lỗi cố ý trực tiếp. Việc bị cáo Y S Niê dùng dao Thái lan gây thương tích xác định đây là hung khí nguy hiểm. Do đó, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đối với bị cáo Y S Niê, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm…;

Bị cáo là công dân có đủ nhận thức biết rõ sức khoẻ là vốn quý của con người và là khách thể được pháp luật đặc biệt quan tâm bảo vệ, mọi hành vi xâm hại đều phải bị trừng trị nghiêm khắc. Tháng 7/2015, bị cáo bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật và đã nộp tiền theo quyết định, tính đến lần phạm tội này, mặc dù bị cáo được coi là chưa bị xử phạt hành chính nhưng nhân thân của bị cáo không tốt. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra nhằm tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Y S Niê phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Hơn nữa, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một phần do lỗi của người bị hại đã có hành vi rủ người bạn đời của bị cáo đi chơi, bị cáo là người dân tộc Ê Đê thuộc dân tộc thiểu số nên khả năng nhận thức có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Do đó, xét mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra.

Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Ea Kar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xử lý vật chứng: đối với 01 cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, rộng 1,5cm, dày 1cm, một đầu nhọn, đầu còn lại nối liền với đoạn lưỡi dao dài 4cm, rộng 2cm và 01 lưỡi dao bằng kim loại dài 7,5cm, rộng 1,5cm có một đầu nhọn là công cụ bị cáo dùng phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xám đỏ, biển kiểm soát 47F1-170.07: Quá trình điều tra, Công an huyện Ea Kar đã giao trả cho người bị hại anh Y N Knul là người quản lý hợp pháp. Xét việc giao trả chiếc xe này của cơ quan Công an là có căn cứ, phù hợp với điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, cần chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, người bị hại anh Y N Knul yêu cầu bị cáo Y S Niê phải bồi thường toàn bộ thiệt hại với tổng số tiền là 84.917.500đ. Trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào hồ sơ bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện đa khoa khu vực 333 được lưu trong hồ sơ vụ án, xác định: thời gian anh Y N Knul điều trị tại bệnh viện là 08 ngày (từ ngày 10/01/2019 đến ngày 18/01/2019), kết quả điều trị bệnh nhân khỏi cho xuất viện.

Căn cứ vào hồ sơ bệnh án, mức độ thương tích và tình trạng khi xuất viện, xác định: sau một tháng kể từ ngày xuất viện anh Y N Knul đi làm bình thường và có thu nhập nên không chấp nhận theo lời khai của người bị hại.

Áp dụng Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 và theo tinh thần tại mục 1 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận các khoản thiệt hại đối với anh Y N Knul, bao gồm: Chi phí điều trị, tiền thuốc tại bệnh viện có hóa đơn là 217.500đ (do có bảo hiểm y tế); tiền thuê xe ô tô đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực 333 là 100.000đ; tiền thuê xe sau khi xuất viện là 600.000đ (số tiền còn lại 3.300.000đ theo hóa đơn, người bị hại trình bày đây là tiền thuê xe ô tô, tắc xi chở người thân đến Bệnh viện đa khoa khu vực 333 và chở về khi xuất viện nên không được chấp nhận); tiền bồi dưỡng sức khỏe 2.000.000đ; tiền giám định 1.500.000đ.

- Đối với tiền thu nhập thực tế bị mất trong thời gian điều trị: xét mức thu nhập của người bị hại anh Y N Knul làm nghề nông và phụ đánh đàn đám cưới nên mức thu nhập bình quân là 200.000đ/ ngày là phù hợp, cần chấp nhận. Đối với mức thu nhập của người chăm sóc chỉ chấp nhận mức bình quân theo kết quả xác minh tính là 150.000đ/ngày.

Do đó, thu nhập thực tế bị mất của người bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện đến khi ổn định sức khỏe là 38 ngày x 200.000đ/ngày= 7.600.000đ; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị hại: khi xuất viện người bị hại đã khỏe nên tự chăm sóc được bản thân, do đó chỉ chấp nhận là 08 ngày x 150.000đ/ngày= 1.200.000đ.

- Tiền tổn thất về tinh thần: căn cứ vào thương tích của anh Y N Knul, chấp nhận tiền tổn thất về tinh thần là 05(năm) lần mức lương cơ sở, thành tiền là: 5 tháng x 1.490.000đ/tháng= 7.450.000đ.

Như vậy, tổng số tiền bị thiệt hại đối với anh Y N Knul được chấp nhận là 20.667.500đ (hai mươi triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Do đó, áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Y S Niê phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại anh Y N Knul là 20.667.500đ (hai mươi triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Y S Niê, phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[1] Xử phạt: Y S Niê: 09(chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tuyên tiêu hủy 01 cán dao bằng gỗ dài 11,5cm, rộng 1,5cm, dày 1cm, một đầu nhọn, đầu còn lại nối liền với đoạn lưỡi dao dài 4cm, rộng 2cm và 01 lưỡi dao bằng kim loại dài 7,5cm, rộng 1,5cm có một đầu nhọn có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 6 năm 2019 giữa Công an huyện Ea Kar và Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

- Chấp nhận việc Công an huyện Ea Kar đã giao trả cho người bị hại anh Y N Knul 01(một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu xám đỏ, biển kiểm soát 47F1-170.07 là người quản lý hợp pháp.

[3] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015:

Buộc bị cáo Y S Niê phải bồi thường cho người bị hại anh Y N Knul toàn bộ thiệt hại (bao gồm: tiền chi phí điều trị, tiền thuốc; tiền thuê xe ô tô đi cấp cứu và xuất viện; tiền bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; tiền giám định; tiền thu nhập thực tế bị mất của bị hại và người nuôi dưỡng; tiền tổn thất về tinh thần) với tổng số tiền là 20.667.500đ (hai mươi triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Áp dụng Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 để tính lãi suất đối với số tiền chậm trả, kể từ khi có đơn yêu cầu của người được thi hành án.

Căn cứ Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì các bên có quyền thoả thuận việc thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 5 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật;

[4]Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo Y S Niê phải chịu 200.000đ(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.003.375đ (một triệu không trăm lẻ ba nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ