- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2019/TLST-HS ngày 24/4/2019 - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| HUYỆN!B! TỈNH!HÀ!NAM! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2019/HSST Ngày: 14 - 5 - 2019 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!B,!TỈNH!HÀ!NAM!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hưởng và ông Nguyễn Huy Sự.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Như Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 14/5/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2019/TLST-HS ngày 24/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST-HS ngày 03/5/2019, đối với bị cáo:
Trần!Hưng!H, sinh năm 1976 tại xã BĐ, huyện B, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn 5, xã BĐ, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu Ô (đã chết) và bà Trần Thị D; Vợ: Nguyễn Thị M; con: Có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/3/2019, chuyển tạm giam từ ngày 02/4/2019, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên tòa.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 27/3/2019, tại đoạn đường liên thôn thuộc địa bàn xóm Điền, thôn 1, xã A, huyện B. Tổ công tác Công an huyện B phối hợp cùng Công an xã A tuần tra, phát hiện và kiểm tra Trần Hưng H đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm về ma túy. Quá trình kiểm tra, H đã thả 01 gói được gói ngoài bằng giấy báo có in chữ màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục đang cầm trong lòng bàn tay trái xuống nền đất ngay cạnh chỗ H đứng thì bị lực lượng Công an phát hiện, yêu cầu nên H đã tự giác nhặt lên giao nộp cho lực lượng Công an và khai nhận đó là Heroine của H cất giữ để sử dụng. Trên cơ sở lời khai ban đầu của Trần Hưng H, lực lượng Công an đã đưa H về trụ sở UBND xã A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng là 01 gói được gói ngoài bằng giấy báo có in chữ màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.
Quá trình điều tra Trần Hưng H khai nhận: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 27/3/2019, H đang đứng một mình ở ngõ thì có đối tượng tên Hiền ở xã A huyện B đến rủ đi mua Heroine về sử dụng, H đồng ý, Hiền đưa cho H 160.000đ, H cầm tiền bỏ vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và bảo Hiền đi ra gốc cây đa cạnh chỗ bãi rác thuộc xã A, huyện B chờ. Hạnh đi bộ xuống xã A và mua của người thanh niên không quen biết 01 gói heroine được gói ngoài bằng giấy báo có in chữ màu đen với giá 200.000đ (trong đó có 160.000đ là tiền của Hiền đưa và 40.000đ là tiền của H), H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ ra chỗ hẹn với Hiền. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc xóm Điền, thôn 1, xã A thì gặp tổ công tác Công an huyện B cùng Công an xã A yêu cầu kiểm tra, do sợ quá nên H đã thả gói Heroine xuống nền đường ngay cạnh chỗ H đứng nhưng đã bị lực lượng Công an phát hiện, H đã tự giác nhặt gói Heroine lên giao nộp cho lực lượng Công an, lực lượng Công an đã đưa H về trụ sở UBND xã A làm việc và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 64/PC09-MT ngày 31/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,223g (Không phảy hai trăm hai mươi ba gam) loại: Heroine.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 23/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trần Hưng H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố H và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Không phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói mẫu vật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hưng H khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã truy tố, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.
[3] Về tội danh: Hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, có khối lượng 0,223g loại: Heroine của bị cáo Trần Hưng H bị lực lượng Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang vào hồi 10 giờ ngày 27/3/2019 tại đoạn đường liên thôn thuộc xóm Điền, thôn 1, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo là trụ cột trong gia đình, không tu chí làm ăn, sống có ích cho xã hội mà lại nghiện ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Xuất phát từ tình hình tội phạm xảy ra trên địa bàn huyện B, nhất là tội phạm về ma túy, ba ngành làm án huyện B đã thống nhất xác định đây là vụ án trọng điểm, đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, đồng thời tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân trên địa bàn huyện. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Song xét bị cáo khai báo thành khẩn, không có tiền án, tiền sự nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy tại biên bản xác minh ngày 13/4/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B thì bị cáo không có tài sản gì, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về vật chứng vụ án: Đối với số ma túy loại: Heroine được niêm phong trong phong bì số 64/PC09-MT là vật cấm tàng trữ, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với việc bị cáo H xác định đối tượng tên Hiền góp tiền cùng bị cáo để đi mua ma túy cùng sử dụng và đối tượng bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của các đối tượng này. Ngoài lời khai của bị cáo thì không còn tài liệu nào khác chứng minh nên không đủ căn cứ để xử lý đối tượng liên quan cũng không làm rõ được nguồn gốc số Heroine mà bị cáo cất giấu.
[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Trần Hưng H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo H 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 27/3/2019).
- Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Heroine trong phong bì niêm phong mặt trước phong bì có số 64/PC09-MT ghi “Mẫu vật hoàn trả QT”, mặt sau phong bì tại mép dán đóng dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, có chữ ký cùng dấu chức danh của Trưởng phòng Trung tá Nguyễn Đại Hữu. (Vật chứng được xác định tại biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 30 phút ngày 24/4/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Hà Nam).
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Hưng H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i!nhËn:!
| - TAND tØnh Hµ Nam;! - VKSND tỉnh Hà Nam; - VKSND huyÖn B; - Chi côc THADS huyÖn B; - C«ng an huyÖn B; - UBND xã BĐ; - BÞ c¸o; - Lu HS; VP. | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! Thẩm!phán!–!Chủ!tọa!phiên!tòa! ! (Đã ký) ! ! ! !!!!!!!!!!!!!!Nguyễn!Thị!Kim!Ngân! ! |