- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2019/HS-ST Ngày 11-10-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TIÊN - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. ông Nguyễn Văn Út.
2. Bà Trần Thị An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Ni, Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019, đối với bị cáo: Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1988. Nơi sinh: C, Kiên Giang. Nơi cư trú: khu phố B, phường T, thành phố Hà Tiên, Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: mua bán. Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn H; Họ và tên mẹ: Lâm Thị H; Anh chị em ruột: có 02 người, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1968; Họ và tên chồng: Trần Bình P, sinh năm 1986; Con có 03 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 28/2019/LCCT-TA ngày 15/8/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, Bị cáo có mặt.
Bị hại: Bà Tăng Thị Kim L, sinh năm 1986.
Địa chỉ: khu phố D, phường T, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Người làm chứng:
- Bà Lý Thị Xuân A, sinh năm 1982. Có mặt
- Bà Lộc Thị Út H, sinh năm 1990. Vắng mặt
- Bà Huỳnh Kim O, sinh năm 1966. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có mâu thuẫn từ trước, khoảng 08 giờ ngày 29/11/2018 Nguyễn Thị Ánh T đến quán nhậu Bãi Nò (Thuộc khu phố B, phường P, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang) tìm gặp Tăng Thị Kim L, T và L xảy ra cự cải dẫn đến xô xát nhau, T lấy dao xếp chuẩn bị sẵn trong người đâm nhiều nhát trúng vào đầu, vùng bụng, nách và hạ sườn trái của L gây thương tích. Lúc này Công an phường Pháo Đài đến đưa T về trụ sở làm việc và giao nộp hung khí là cây dao xếp gây án. Còn Tăng Thị Kim L được đưa đến Trung tâm y tế thành phố Hà Tiên điều trị thương tích đến ngày 06/12/2018 thì xuất viện. Ngày 26/3/2019 Tăng Thị Kim L gửi yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Thị Ánh T về hành vi “Cố ý gây thương tích” đến Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 277/KL-PY ngày 18/4/2019 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích đối với Tăng Thị Kim L:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo cơ cứng vùng đỉnh trái, ngực trái (dưới nách), vùng bụng trái và vùng ngực bụng trái (hạ sườn trái).
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại ở:
- Vùng đỉnh trái là 11% (mười một phần trăm).
- Vùng ngực trái (dưới nách) là 06% (sáu phần trăm).
- Vùng bụng trái là 06% (sáu phần trăm).
- Vùng ngực bụng trái (hạ sườn trái) là 06% (sáu phần trăm).
3. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do các thương tích trên gây nên hiện tại là 15% (mười lăm phần trăm).
4. Vật gây thương tích: Vật sắc.
5. Chức năng bộ phân cơ thể: Các thương tích trên không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể.
Vật chứng trong vụ án: 01 (một) cây dao bằng kim loại màu xanh – trắng (loại dao xếp) có chiều dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 06cm (đã qua sử dụng). Vật chứng trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Tăng Thị Kim L yêu cầu bồi thường tổng cộng 7.320.000 đồng (bảy triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) gồm: chi phí nằm viện, tiền thuốc 2.500.000 đồng (có hóa đơn, chứng từ điều trị thương tích là 2.407.819 đồng), chi phí ngày công lao động bị mất: 20 ngày x 166.000 đồng/ngày = 3.320.000 đồng, chi phí lao động bị mất của người chăm sóc: 10 ngày x 150.000 đồng/ngày = 1.500.000 đồng. Bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại, bị cáo đã nộp bồi thường thiệt hại là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang theo biên lai số 05372 ngày 30/7/2019.
Tại Bản cáo trạng số 19/CT-VKSHT, ngày 12/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ánh T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo bồi thường một phần hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, bản thân bị cáo là lao động chính, đang trực tiếp nuôi 03 người con, trong đó có 01 cháu 07 tuổi và 01 cháu dưới 36 tháng tuổi nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh T mức án từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 (một) cây dao bằng kim loại màu xanh – trắng (loại dao xếp) có chiều dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 06cm (đã qua sử dụng).
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo T đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền 7.320.000 đồng (bảy triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) gồm: chi phí nằm viện, tiền thuốc 2.500.000 đồng (có hóa đơn, chứng từ điều trị thương tích là 2.407.819 đồng), chi phí ngày công lao động bị mất: 20 ngày x 166.000 đồng/ngày = 3.320.000 đồng, chi phí lao động bị mất của người chăm sóc: 10 ngày x 150.000 đồng/ngày = 1.500.000 đồng. Bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại, bị cáo đã nộp bồi thường thiệt hại là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang theo biên lai số 05372 ngày 30/7/2019.
Buộc bị cáo nộp án phí hình sự, dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố Hà Tiên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.
Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Người làm chứng Lộc Thị Út H, Huỳnh Kim O đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt những người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do có mâu thuẫn từ trước nên bị cáo tìm gặp bị hại và xảy ra xô xát, bị cáo đã dùng dao xếp là hung khí nguy hiểm đâm nhiều nhát trúng vào đầu, vùng bụng, nách và hạ sườn trái của bị hại gây thương tích. Tỷ lệ thương tích cơ thể do các thương tích gây nên hiện tại là 15% (mười lăm phần trăm). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định pháp y về thương tích số 277/KL-PY ngày 18/4/2019 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế tỉnh Kiên Giang. Xét thấy hành vi của bị cáo phù hợp với quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
…
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ánh T đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về hành vi phạm tội của từng bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thể hiện như sau: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Giữa bị cáo và bị hại thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bị cáo nghi ngờ bị hại có quan hệ tình cảm với chồng của bị cáo, vì vậy bị cáo mang theo dao tìm bị hại để gây thương tích. Hành vi của bị cáo cho thấy bị cáo xem thường sức khỏe của người khác, chưa tuân thủ các quy định của pháp luật. Với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng nhằm răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo sống chấp hành theo quy định của pháp luật, biết tôn trọng sức khỏe của người khác, đồng thời phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Qua các tài liệu về lý lịch của các bị cáo có trong hồ sơ thể hiện bị cáo Nguyễn Thị Ánh T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là có căn cứ. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thương một phần thiệt hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo, hiện đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 03 con, trong đó có 01 con dưới 36 tháng tuổi. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tiên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù. Hình phạt đối với bị cáo vừa mang tính răn đe, giáo dục thể hiện tính nghiêm minh, vừa thể hiện chính sách kOn hồng của pháp luật, nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt. Do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là phù hợp.
Biện pháp tư pháp., xử lý vật chứng trong vụ án: Đối với vật chứng là 01 (một) cây dao bằng kim loại màu xanh – trắng (loại dao xếp) có chiều dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 06cm (đã qua sử dụng) là hung khí bị cáo dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nên Hội đồng xét xử ghi nhận tự nguyện của bị cáo T bồi thường cho bị hại số tiền 7.320.000 đồng (bảy triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) gồm: chi phí nằm viện, tiền thuốc 2.500.000 đồng (có hóa đơn, chứng từ điều trị thương tích là 2.407.819 đồng), chi phí ngày công lao động bị mất: 20 ngày x 166.000 đồng/ngày = 3.320.000 đồng, chi phí lao động bị mất của người chăm sóc: 10 ngày x 150.000 đồng/ngày = 1.500.000 đồng. Bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại, bị cáo đã nộp bồi thường thiệt hại là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang theo biên lai số 05372 ngày 30/7/2019. Số tiền còn lại buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 5% đối với số tiền phải thi hành bồi thường.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 47, Điều 65, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ánh T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ánh T 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 11/10/2019.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Tô Châu, thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ánh T bồi thường thiệt hại cho bị hại Tăng Thị Kim L số tiền 7.320.000 đồng (bảy triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng). Được khấu trừ đố tiền bị cáo đã nộp bồi thường thiệt hại là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) theo biên lai số 05372 ngày 30/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 2.320.000 đồng (hai triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).
Xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy vật chứng là 01 (một) cây dao bằng kim loại màu xanh – trắng (loại dao xếp) có chiều dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 06cm (đã qua sử dụng) đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thu hành án dân sự thành phố Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ánh T chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 366.000 đồng, tổng cộng 566.000 đồng (năm trăm sáu mươi sáu nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Ánh T, bị hại Tăng Thị Kim L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Kiên Giang;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Hà Tiên;
- Công an tỉnh Kiên Giang (PV27);
- Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
- Chi cục THADS thành phố Hà Tiên;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Lưu: HSVA.
Huỳnh Thanh Phương
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Kiên Giang;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Hà Tiên;
- Công an tỉnh Kiên Giang (PV27);
- Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
- Chi cục THADS thành phố Hà Tiên;
- Bị cáo;
- Bị hại;
- Lưu: HSVA.
Huỳnh Thanh Phương
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND Tx Hà Tiên; - Công an tỉnh Kiên Giang (PV27); - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang; - Chi cục THADS thị xã Hà Tiên; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: HSVA. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Thanh Phương |